BÁO CÁO THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT YÊU CẦU HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. HỒ CHÍ MINH (GIAI ĐOẠN 2024 – 2025)
1. Lời nói đầu, Phần 1 – Mục tiêu và Phạm vi Báo cáo Trong bối cảnh trọng tài thương mại
1. Lời nói đầu, Phần 1 – Mục tiêu và Phạm vi Báo cáo
Trong bối cảnh trọng tài thương mại ngày càng được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam, vấn đề hủy phán quyết trọng tài (“PQTT”) đặt ra nhiều thách thức, có tác động trực tiếp đến hiệu lực của cơ chế trọng tài. Việc lựa chọn trung tâm kinh tế lớn như TP. Hồ Chí Minh – cũng là nơi đặt Trung tâm tài chính quốc tế theo Nghị quyết số 222/2025/QH15, xuất phát từ vai trò trọng điểm của thành phố, đặc biệt là trong trọng tài quốc tế và các tranh chấp thương mại, đầu tư có yếu tố nước ngoài. Thông qua đó, Báo cáo hướng tới việc cung cấp khuyến nghị thực tiễn nhằm nâng cao tính ổn định, minh bạch và hiệu quả của cơ chế trọng tài tại Việt Nam.
Báo cáo của Dentons Luật Việt tập trung phân tích thực tiễn giải quyết yêu cầu hủy PQTT tại Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh (“TAND TP.HCM”) trong giai đoạn 2024 – 2025, trên cơ sở đánh giá xu hướng xét xử, quy định của pháp luật và các yếu tố tác động khác. Trọng tâm không chỉ dừng lại ở việc thống kê tỷ lệ hủy và không hủy, mà còn đi sâu vào phân tích lập luận của Tòa án, đánh giá việc viện dẫn căn cứ pháp lý và diễn giải các quy định pháp luật liên quan đến hủy PQTT.
Dữ liệu nghiên cứu được chúng tôi tổng hợp từ: (i) các quyết định đã được công bố chính thức trên Trang thông tin điện tử công bố bản án, quyết định của Tòa án – Tòa án nhân dân tối cao; và (ii) các quyết định thu thập được trong quá trình hành nghề thực tiễn (đã được mã hóa nhằm bảo đảm tính bảo mật). Tổng cộng 43 quyết định được đưa vào phân tích trong Báo cáo.
Xem toàn văn nội dung của Lời nói đầu và Phần 1 tại đây: [BÁO CÁO THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT YÊU CẦU HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. HỒ CHÍ MINH (GIAI ĐOẠN 2024 – 2025) - PHẦN 1]
2. Phần 2 – Căn cứ hủy phán quyết trọng tài theo quy định của pháp luật
Khung pháp lý về hủy PQTT được quy định chủ yếu tại Luật Trọng tài thương mại 2010 (“LTTTM”) và Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP. Theo đó, sự tham gia của tòa án bị giới hạn ở việc kiểm tra và bảo đảm tính hợp pháp của quy trình tố tụng trọng tài và liên quan đến các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, mà không xét lại nội dung tranh chấp. Về thẩm quyền của tòa án, theo Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 mới đây, thẩm quyền xem xét yêu cầu hủy PQTT được giao cho ba tòa án nhân dân cấp tỉnh ở Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh, nhằm tăng cường tính chuyên môn hóa và thống nhất trong áp dụng pháp luật.
Đối với xu hướng áp dụng, tòa án vẫn duy trì nguyên tắc không xét lại nội dung vụ tranh chấp theo quy định. Thực tiễn cho thấy, hai nhóm căn cứ hủy được viện dẫn phổ biến nhất là “trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” và “tranh chấp không thuộc thẩm quyền của trọng tài hoặc không có thỏa thuận trọng tài”. Trong đó, căn cứ liên quan đến “nguyên tắc cơ bản” gây nhiều tranh luận do cách diễn giải đôi khi bị mở rộng, tiệm cận việc đánh giá lại chứng cứ hoặc lập luận nội dung. Nhìn chung, xu hướng giám sát chặt chẽ của tòa án góp phần bảo đảm pháp quyền, nhưng nếu áp dụng thiếu nhất quán có thể ảnh hưởng đến tính chung thẩm và sức hấp dẫn của cơ chế trọng tài thương mại.
Xem toàn văn nội dung của Phần 2 tại đây: [BÁO CÁO THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT YÊU CẦU HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. HỒ CHÍ MINH (GIAI ĐOẠN 2024 – 2025) - PHẦN 2]
3. Phần 3 – Thực tiễn xét đơn yêu cầu về việc hủy phán quyết trọng tài của Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh
Giai đoạn 2024 – 2025 ghi nhận sự gia tăng đáng kể số lượng yêu cầu hủy PQTT tại TAND TP.HCM, song tỷ lệ phán quyết bị hủy lại có xu hướng giảm. Năm 2024, Tòa án ban hành 13 quyết định, trong đó có 04 quyết định hủy. Đến năm 2025, con số này tăng lên 30 quyết định nhưng chỉ có 05 trường hợp bị hủy. Các tranh chấp phát sinh yêu cầu hủy PQTT chủ yếu tập trung ở lĩnh vực xây dựng, mua bán hàng hóa, dịch vụ tư vấn, phân phối, bảo hiểm và tài chính. Về căn cứ pháp lý và lập luận, đa số các quyết định hủy được viện dẫn theo điểm đ khoản 2 Điều 68 LTTTM, liên quan đến việc PQTT “trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” – một khái niệm mang tính định tính và còn thiếu hướng dẫn cụ thể. Các vi phạm thường được xác định bao gồm: không tôn trọng thỏa thuận của các bên về phương thức tính lãi, phạt vi phạm, ngôn ngữ tố tụng, phương thức thông báo; vi phạm nguyên tắc bình đẳng, khách quan trong đánh giá chứng cứ; hoặc xác định sai thời hiệu khởi kiện.
Ở chiều ngược lại, phần lớn yêu cầu hủy PQTT bị bác vì lập luận của bên yêu cầu thực chất là nội dung tranh chấp đã được Hội đồng trọng tài (“HĐTT”) xem xét, Tòa án không xét xử lại theo khoản 4 Điều 71 LTTTM. Hoặc bên yêu cầu không chứng minh được PQTT trái với nguyên tắc cơ bản nào của pháp luật Việt Nam. Các trường hợp khác cũng không được chấp nhận yêu cầu hủy là: không cung cấp được chứng cứ về việc HĐTT thiếu khách quan, đã mất quyền phản đối theo Điều 13 LTTTM, không chứng minh được vi phạm thủ tục nghiêm trọng, không chứng minh được HĐTT vượt quá yêu cầu khởi kiện. Từ các quyết định được xem xét, xu hướng xét xử thể hiện rõ vai trò “hậu kiểm” của Tòa án và sự tôn trọng tính chung thẩm của trọng tài. Tuy nhiên, ranh giới giữa việc kiểm tra vi phạm thủ tục và việc xem xét lại nội dung tranh chấp (đặc biệt trong một số vụ việc mà Tòa án đi sâu diễn giải thỏa thuận và đánh giá lại bản chất nghĩa vụ hợp đồng) chưa thực sự rõ ràng. Do đó, đặt ra yêu cầu cần hoàn thiện tiêu chí áp dụng các căn cứ hủy PQTT nhằm bảo đảm tính ổn định của cơ chế trọng tài thương mại.
Xem toàn văn nội dung của Phần 3 tại đây: [BÁO CÁO THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT YÊU CẦU HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. HỒ CHÍ MINH (GIAI ĐOẠN 2024 – 2025) - PHẦN 3]
4. Phần 4 – Phân tích và đối chiếu các căn cứ hủy phán quyết trọng tài qua thực tiễn xét xử
Khi xem xét yêu cầu hủy PQTT, Tòa án thường căn cứ vào việc đánh giá cụ thể các chứng cứ trong hồ sơ, quá trình tố tụng trọng tài đã diễn ra, cũng như mức độ ảnh hưởng của những yếu tố đó đối với quyền và lợi ích hợp pháp của các bên để đưa ra quyết định hủy hay không hủy phán quyết. Tuy nhiên, qua quá trình nghiên cứu và đối chiếu các quyết định đã được ban hành, chúng tôi nhận thấy có tồn tại những trường hợp có nhiều điểm tương đồng về tình tiết và cùng viện dẫn một cơ sở pháp lý, nhưng kết quả xét xử lại khác nhau. Trong một số trường hợp, Tòa án chấp nhận yêu cầu và quyết định hủy PQTT. Nhưng ở các quyết định khác, với lập luận pháp lý tương tự, Tòa án lại không chấp nhận yêu cầu hủy.
Từ góc độ nghiên cứu, việc phân tích và đối chiếu các trường hợp có kết quả xét xử đối lập có ý nghĩa quan trọng trong việc làm rõ các tiêu chí mà Tòa án áp dụng khi xem xét yêu cầu hủy PQTT, qua đó giúp lý giải sự khác biệt trong kết quả xét xử. Trong phạm vi nghiên cứu này, các cặp trường hợp được lựa chọn chủ yếu xoay quanh một số căn cứ phổ biến theo khoản 2 Điều 68 LTTTM là: (i) không có thỏa thuận trọng tài; và (ii) phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.
Các cặp quyết định trong từng căn cứ sẽ được trình bày theo thứ tự đối chiếu là: không hủy – hủy, để làm nổi bật các yếu tố then chốt dẫn đến sự khác biệt trong kết quả xét xử. Qua đó, giúp rút ra một số nhận định về xu hướng áp dụng pháp luật, mức độ thống nhất trong thực tiễn xét xử, cũng như những lưu ý quan trọng đối với các bên khi tham gia tố tụng trọng tài và khi thực hiện quyền yêu cầu hủy PQTT.
Xem toàn văn nội dung của Phần 4 tại đây: [BÁO CÁO THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT YÊU CẦU HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. HỒ CHÍ MINH (GIAI ĐOẠN 2024 – 2025) - PHẦN 4]
5. Phần 5 – Kiến nghị
Từ kết quả nghiên cứu, có thể thấy cơ chế hủy phán quyết trọng tài cần được tiếp tục hoàn thiện nhằm bảo đảm áp dụng thống nhất và đúng mục đích giám sát tư pháp của tòa án.
Trước hết, cần ban hành các bộ tiêu chí hướng dẫn cụ thể về việc xác định “vi phạm các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”, trong đó nhận diện “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trọng tài” và giới hạn phạm vi xem xét để tránh tình trạng xét xử lại nội dung tranh chấp.
Đồng thời, cần nâng cao năng lực chuyên môn của các trung tâm trọng tài và trọng tài viên nhằm hạn chế sai sót trong lập luận, đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật. Bên cạnh đó, pháp luật cũng nên bổ sung cơ chế hủy một phần phán quyết trong LTTTM để tránh việc hủy toàn bộ phán quyết khi chỉ một hoặc một số nội dung có sai sót.
Ngoài ra, cần tăng cường hướng dẫn nghiệp vụ, tổng kết thực tiễn và cơ chế phối hợp giữa các tòa án có thẩm quyền nhằm bảo đảm tính thống nhất, rút ngắn thời gian giải quyết và nâng cao hiệu quả hỗ trợ hoạt động trọng tài.
Xem toàn văn nội dung của Phần 5 tại đây: [BÁO CÁO THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT YÊU CẦU HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. HỒ CHÍ MINH (GIAI ĐOẠN 2024 – 2025) - PHẦN 5]
6. Phần 6 – Phụ lục
Thông tin chi tiết của các quyết định được phân tích và thống kê số liệu của các quyết định này được tổng hợp đầy đủ tại Phần 6 của Báo cáo này.
Xem toàn văn nội dung của Phần 6 tại đây: [BÁO CÁO THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT YÊU CẦU HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. HỒ CHÍ MINH (GIAI ĐOẠN 2024 – 2025) - PHẦN 6]