IFC đầu tiên tại Việt Nam “mở cửa” đối với nhà đầu tư nước ngoài
Ngày 01 tháng 9 năm 2025, Nghị quyết số 222/2025/QH15[1] do Quốc hội ban hành chính thức
Ngày 01 tháng 9 năm 2025, Nghị quyết số 222/2025/QH15[1] do Quốc hội ban hành chính thức có hiệu lực, quy định về việc thành lập, hoạt động, quản lý, giám sát và các cơ chế, chính sách đặc thù áp dụng đối với Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam (“Trung tâm tài chính quốc tế”). Theo đó, Trung tâm tài chính quốc tế được thành lập theo mô hình “một trung tâm, hai điểm đến” tại hai khu vực kinh tế lớn là Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Đà Nẵng. Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 222/2025/QH15, Chính phủ đã liên tiếp ban hành 08 Nghị định quy định chi tiết về Trung tâm Tài chính quốc tế với các quy định nổi bật như sau:
1. Mô hình “một trung tâm, hai điểm đến”
Trung tâm tài chính quốc tế sẽ được điều hành bởi một Hội đồng điều hành ở Trung ương và hai cơ quan điều hành tại địa phương theo mô hình hành chính đặc thù, được phân cấp, phân quyền tối đa trong quản lý nhà nước.[2] Cơ quan điều hành tại địa phương được trao quyền ban hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát, thực hiện hệ thống hành chính một cửa điện tử và được thuê chuyên gia nước ngoài làm Giám đốc điều hành, được hưởng chế độ tiền lương, chế độ đãi ngộ đặc thù, vượt trội, theo cơ chế thị trường.[3] Cơ quan giải quyết tranh chấp của Trung tâm tài chính quốc tế sẽ bao gồm Tòa án chuyên biệt và Trung tâm trọng tài quốc tế trực thuộc.[4] Việc giải quyết các tranh chấp tại Trung tâm tài chính quốc tế được thực hiện theo quy định tại Nghị quyết số 222/2025/QH15, Luật Tòa án chuyên biệt tại Trung tâm tài chính quốc tế và Nghị định Trung tâm trọng tài quốc tế thuộc Trung tâm Tài chính quốc tế,[5] nhằm góp phần nâng cao tính chuyên môn, rút ngắn thời gian giải quyết tranh chấp và tăng mức độ tin cậy đối với các nhà đầu tư và tổ chức tài chính quốc tế so với cơ chế giải quyết tranh chấp chung trước đây.
Ngoài ra, Nghị định số 323/2025/NĐ-CP cũng ban hành Danh mục ngành, nghề, sản phẩm, dịch vụ ưu tiên phát triển của Trung tâm tài chính quốc tế thuộc các lĩnh vực như phát triển hạ tầng Trung tâm tài chính quốc tế; tài chính xanh, tài chính gắn với môi trường, xã hội và quản trị (ESG); thị trường hàng hóa, hàng hóa phái sinh và tài chính thương mại quốc tế; công nghệ tài chính (Fintech) và đổi mới sáng tạo; quỹ đầu tư và dịch vụ quản lý tài sản; dịch vụ hỗ trợ chuyên nghiệp và một số lĩnh vực khác.
2. Trung tâm Tài chính quốc tế được hưởng các chính sách ưu đãi vượt trội về thuế[6]
Đối với thuế Thu nhập doanh nghiệp (“thuế TNDN”), thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới phát sinh tại địa bàn Trung tâm tài chính quốc tế (i) thuộc ngành, nghề ưu tiên phát triển tại Trung tâm tài chính quốc tế được áp dụng thuế suất thuế TNDN 10% trong ba mươi (30) năm, miễn thuế TNDN tối đa không quá bốn (04) năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa không quá chín (09) năm tiếp theo; (ii) các ngành nghề khác hưởng thuế suất thuế TNDN 15% trong mười lăm (15) năm, miễn thuế TNDN tối đa không quá hai (02) năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa không quá bốn (04) năm tiếp theo.[7]
Đối với thuế Thu nhập cá nhân (“thuế TNCN”), nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học, người có trình độ chuyên môn cao làm việc tại Trung tâm tài chính quốc tế, bao gồm người Việt Nam và người nước ngoài được miễn thuế TNCN đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công có được từ thực hiện công việc tại Trung tâm tài chính quốc tế đến hết năm 2030.[8] Các cá nhân này phải đáp ứng tối thiểu các tiêu chí, điều kiện về trình độ chuyên môn và kinh nghiệm để được hưởng ưu đãi về chính sách thuế.[9] Ngoài ra, cá nhân có thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp, quyền góp vốn vào Thành viên của Trung tâm tài chính quốc tế được miễn thuế TNCN đối với khoản thu nhập này đến hết năm 2030.[10]
Về chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, miễn thuế nhập khẩu đối với thiết bị kỹ thuật, công nghệ, giải pháp phần mềm trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu để phục vụ dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật thông tin, điều hành quản lý và trung tâm dữ liệu lớn của Trung tâm tài chính quốc tế, theo danh mục được Cơ quan điều hành ban hành.[11] Bên cạnh đó, miễn thuế nhập khẩu hàng hóa để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư trong Trung tâm tài chính quốc tế đối với hàng hóa, nguyên liệu, vật tư, linh kiện trong nước chưa sản xuất được nhập khẩu để tạo tài sản cố định của dự án đầu tư trong Trung tâm tài chính quốc tế, theo danh mục được Cơ quan điều hành ban hành hoặc hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định của đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư.[12]
3. Thủ tục đăng ký và công nhận Thành viên của Trung tâm tài chính quốc tế được đơn giản hóa
Các tổ chức, doanh nghiệp được đăng ký làm Thành viên của Trung tâm tài chính quốc tế khi đáp ứng các tiêu chuẩn về năng lực tài chính, uy tín và có lĩnh vực hoạt động phù hợp với định hướng phát triển của Trung tâm tài chính quốc tế theo quy định tại Nghị quyết 222/2025/QH15 và các văn bản quy định chi tiết (trừ trường hợp quy định tại khoản 4, 5 và 6 Điều 10 của Nghị quyết 222/2025/QH15).[13]
Về thủ tục hành chính, thủ tục đăng ký thành viên Trung tâm được đơn giản hóa với thời gian xử lý hồ sơ chỉ bảy (07) ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ đăng ký Thành viên của Trung tâm tài chính quốc tế.[14] Thủ tục công nhận Thành viên được xử lý hồ sơ trong vòng năm (05) ngày làm việc kể từ khi nhận hồ sơ đề nghị công nhận Thành viên.[15] Theo đó, các hiện diện tại Trung tâm tài chính quốc tế của các chủ thể sau đây có quyền đề nghị được công nhận làm Thành viên mà không cần thực hiện thủ tục đăng ký:[16]
(i) Tổ chức tài chính, quỹ đầu tư hoặc doanh nghiệp thuộc danh sách Fortune Global 500 do Tạp chí Fortune công bố tại thời điểm đăng ký, hoặc công ty mẹ trực tiếp của các tổ chức, quỹ, doanh nghiệp này, trừ các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm;
(ii) Các tổ chức tài chính thuộc nhóm mười doanh nghiệp hàng đầu trong nước về vốn điều lệ trong từng lĩnh vực tương ứng, trừ lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm.
4. Giảm rào cản đối với người lao động là người nước ngoài[17]
Thành viên của Trung tâm Tài chính quốc tế được chủ động tuyển dụng người lao động nước ngoài, theo nhu cầu công việc mà không bị giới hạn tỷ lệ lao động nước ngoài[18]. Thời gian giải quyết hồ sơ đề nghị cấp, gia hạn giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài làm việc tại Trung Tâm Tài chính quốc tế được rút ngắn theo quy định của Nghị định số 325/2025/NĐ-CP (tối đa là ba (03) ngày làm việc[19] kể từ ngày nhận đủ hồ sơ đề nghị thay vì mười (10) ngày làm việc theo quy định tại Nghị định số 219/2025/NĐ-CP.[20] Thời hạn giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài lên tới mười (10) năm[21] thay vì hai (02) năm như quy định hiện hành.[22]
Người lao động nước ngoài thuộc đối tượng phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Luật bảo hiểm xã hội 2025[23] thì việc tham gia và giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội sẽ tuân thủ theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội 2025[24]. Người lao động nước ngoài không thuộc đối tượng phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại khoản 2 Điều 2 của Luật bảo hiểm xã hội 2025 được quyền lựa chọn tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.[25]
Người lao động nước ngoài làm việc Trung tâm tài chính quốc tế không phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Tuy nhiên, nếu có nhu cầu/đề nghị tham gia thì người lao động nước ngoài này được tham gia bảo hiểm thất nghiệp.[26]
5. Quy định về đất đai và môi trường[27]
Chính phủ phân quyền cho Chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP. Hồ Chí Minh và TP. Đà Nẵng thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, gia hạn sử dụng đất, điều chỉnh thời hạn sử dụng đất đối với Thành viên Trung tâm tài chính quốc tế thực hiện dự án đầu tư.[28] Dự án đầu tư trong phạm vi Trung tâm tài chính quốc tế thuộc Danh mục ngành, nghề ưu tiên phát triển hoặc có quy mô lớn được giao đất, cho thuê đất với thời hạn tối đa là bảy mươi (70) năm; đối với dự án thuộc lĩnh vực khác, thời hạn sử dụng đất tối đa là năm mươi (50) năm và có thể được gia hạn sau khi được Nhà nước xem xét.[29]
Thành viên Trung tâm tài chính quốc tế đăng ký môi trường cho dự án đầu tư trước khi xả chất thải ra ngoài môi trường, trừ trường hợp dự án đầu tư được miễn đăng ký môi trường theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.[30] Cơ quan tiếp nhận đăng ký môi trường là Ủy ban nhân dân xã, phường (“Ủy ban nhân dân cấp xã”) nơi có dự án đầu tư; trường hợp dự án triển khai trên địa bàn hành chính từ hai (02) xã, phường trở lên, chủ dự án đầu tư có quyền lựa chọn một Ủy ban nhân dân cấp xã để đăng ký môi trường.[31] Chủ dự án đầu tư được lựa chọn đăng ký môi trường với Ủy ban nhân dân cấp xã bằng hình thức trực tiếp, qua đường bưu điện, qua Cổng dịch vụ công quốc gia hoặc qua Cơ quan điều hành Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng nhằm tạo thuận lợi cho nhà đầu tư.[32]
6. Chính sách nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú đối với người nước ngoài
Nghị định số 327/2025/NĐ-CP[33] đưa ra cơ chế cấp thị thực hoặc thẻ tạm trú ưu đãi cho người nước ngoài là nhà đầu tư quan trọng, chuyên gia, nhà quản lý, người lao động có trình độ cao làm việc cho cơ quan, tổ chức có trụ sở tại Trung tâm tài chính quốc tế và thành viên gia đình đi cùng, với thời hạn tối đa lên tới mười (10) năm.[34] Trong khi đó, thông thường chỉ có nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và người đại diện cho tổ chức nước ngoài đầu tư tại Việt Nam có vốn góp giá trị từ 100 tỷ đồng trở lên hoặc đầu tư vào ngành, nghề ưu đãi đầu tư, địa bàn ưu đãi đầu tư mới được cấp thẻ tạm trú có thời hạn không quá mười (10) năm[35] và thị thực có thời hạn không quá năm (05) năm.[36] Nghị định số 327/2025/NĐ-CP rút ngắn thời hạn giải quyết thủ tục mời, bảo lãnh nhập cảnh, đề nghị cấp thị thực, cấp thẻ tạm trú cho người nước ngoài làm việc tại Trung tâm tài chính quốc tế còn không quá ba (03) ngày làm việc kể từ ngày nhận đầy đủ hồ sơ[37] thay vì năm (05) ngày làm việc như quy định hiện hành.[38]
7. Quy định về Trung tâm trọng tài quốc tế thuộc Trung tâm Tài chính quốc tế
Cơ quan giải quyết tranh chấp tại Trung tâm tài chính quốc tế bao gồm (i) Tòa án chuyên biệt được thành lập theo quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân; và (ii) Trung tâm trọng tài quốc tế thuộc Trung tâm tài chính quốc tế, được thành lập theo quy định tại Luật Trọng tài thương mại.[39] Theo đó, Trung tâm trọng tài quốc tế thuộc Trung tâm tài chính quốc tế có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về đầu tư kinh doanh tại Trung tâm tài chính quốc tế theo thỏa thuận của các bên phù hợp với quy tắc và quy định do Trung tâm trọng tài quốc tế ban hành, trừ (i) các tranh chấp có đối tượng là quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan quản lý nhà nước hoặc người có thẩm quyền;(ii) tranh chấp liên quan đến lao động; (iii) Tranh chấp liên quan đến quyền nhân thân của cá nhân; và (iv) Vấn đề khác liên quan đến quản lý nhà nước đã được giải quyết bằng bản án, quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, của Tòa án có thẩm quyền tại Việt Nam.[40]
Nghị định số 328/2025/NĐ-CP đòi hỏi các sáng lập viên của Trung tâm trọng tài quốc tế phải là công dân Việt Nam có trình độ đại học trở lên; có trình độ Tiếng Anh đạt 5/6 bậc theo khung năng lực ngoại ngữ Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành hoặc tương đương; có ít nhất mười (10) năm kinh nghiệm thực tiễn về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài liên quan đến lĩnh vực đầu tư, kinh doanh; ưu tiên có kiến thức chuyên môn trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng; đã tham gia ban hành ít nhất mười (10) phán quyết trọng tài; và phải là trọng tài viên của một Trung tâm trọng tài được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam.[41]
Trường hợp các bên có thỏa thuận bằng văn bản về việc lựa chọn Trung tâm trọng tài quốc tế thuộc Trung tâm Tài chính quốc tế là cơ quan giải quyết tranh chấp trong hoạt động đâu tư kinh doanh, tranh chấp giữa các Thành viên hoặc tranh chấp giữa Thành viên của Trung tâm tài chính quốc tế với bên khác được giải quyết tại Trung tâm trọng tài quốc tế thuộc Trung tâm tài chính quốc tế thì Quyết định công nhận kết quả hoà giải thành, quyết định, phán quyết của Hội đồng trọng tài thuộc Trung tâm trọng tài quốc tế thuộc Trung tâm tài chính quốc tế về việc giải quyết tranh chấp là chung thẩm, có hiệu lực thi hành.
Ngoài ra, Nghị định số 328/2025/NĐ-CP còn ban hành quy định mang tính đột phá so với các quy định về tố tụng trọng tài tại Việt Nam hiện nay khi xác lập cơ chế cho phép các bên tranh chấp có quyền thỏa thuận từ bỏ quyền yêu cầu Tòa án hủy quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên hoặc phán quyết trọng tài có hiệu lực pháp luật của Hội đồng trọng tài thuộc Trung tâm trọng tài quốc tế. Tòa án không giải quyết yêu cầu hủy phán quyết, quyết định của Hội đồng trọng tài khi các bên đã có văn bản thỏa thuận từ bỏ quyền này.[42]
8. Quy định về quản lý ngoại hối
Nghị định số 329/2025/NĐ-CP đặt ra nhiều quy định nhằm quản lý ngoại hối tại Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam. Theo đó, doanh nghiệp là thành viên của Trung tâm tài chính quốc tế phải sử dụng tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ tại một ngân hàng thành viên của Trung tâm tài chính quốc tế để thực hiện các giao dịch chuyển tiền như vay vốn từ cá nhân, tổ chức ngoài lãnh thổ Việt Nam; cho vay đối với cá nhân, tổ chức ngoài lãnh thổ Việt Nam và bên đi vay trong nước; đầu tư từ Trung tâm tài chính ra nước ngoài; đầu tư từ Trung tâm tài chính vào phần còn lại của Việt Nam; và đầu tư nước ngoài vào Trung tâm tài chính.[43] Nhà đầu tư nước ngoài cũng phải sử dụng tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ mở tại một ngân hàng thành viên (tài khoản vốn của nhà đầu tư nước ngoài) để thực hiện giao dịch đầu tư nước ngoài vào Trung tâm tài chính;[44] chuyển vốn, lợi nhuận và các khoản thu hợp pháp từ Trung tâm tài chính ra nước ngoài của nhà đầu tư nước ngoài.[45]
Doanh nghiệp thành viên được thực hiện giao dịch thanh toán, chuyển tiền, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá bằng ngoại tệ đối với các hoạt động, dịch vụ cung cấp cho thành viên khác, cá nhân, tổ chức ngoài lãnh thổ Việt Nam; và cá nhân, tổ chức trên lãnh thổ Việt Nam không là thành viên theo quy định pháp luật hiện hành về sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam.[46] Tuy nhiên, việc thanh toán, chuyển tiền giữa các thành viên phải thực hiện thông qua tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ tại ngân hàng thành viên.[47]
Đối với hoạt động cho vay ra nước ngoài, thành viên do nhà đầu tư nước ngoài sở hữu toàn bộ (100% vốn điều lệ) được cho cá nhân, tổ chức ngoài lãnh thổ Việt Nam vay vốn và phải thực hiện khai báo thông tin, tuân thủ chế độ báo cáo; đối với thành viên không do nhà đầu tư nước ngoài sở hữu 100% vốn điều lệ phải tuân thủ quy định về điều kiện cho vay ra nước ngoài tại Điều 89 Nghị định số 329/2025/NĐ-CP và phải thực hiện khai báo thông tin, tuân thủ chế độ báo cáo.[48]
Đối với hoạt động cho vay trong nước, bên đi vay trong nước phải tuân thủ các nguyên tắc và điều kiện cụ thể và phải thực hiện khai báo khoản vay, đăng ký, đăng ký thay đổi khoản vay.[49]
Đối với hoạt động đầu tư từ trung tâm tài chính ra nước ngoài của thành viên: Thành viên do nhà đầu tư nước ngoài sở hữu 100% vốn điều lệ không phải tuân thủ các quy định về đăng ký, đăng ký thay đổi giao dịch ngoại hối liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài nhưng phải thực hiện chuyển khoản thông qua tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ tại một ngân hàng thành viên (tài khoản vốn của doanh nghiệp thành viên) và thực hiện các quy định về khai báo thông tin, tuân thủ chế độ báo cáo theo quy định.[50] Thành viên không do nhà đầu tư nước ngoài sở hữu 100% vốn điều lệ khi được phép thực hiện hình thức đầu tư liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp từ Trung tâm tài chính ra nước ngoài theo quy định của pháp luật về đầu tư, phải thực hiện đăng ký giao dịch ngoại hối và thực hiện các giao dịch chuyển vốn ra nước ngoài, chuyển vốn đầu tư gốc, lợi nhuận và khoản thu hợp pháp từ nước ngoài về Trung tâm tài chính thông qua tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ tại một ngân hàng thành viên (tài khoản vốn của doanh nghiệp thành viên); và phải thực hiện đăng ký thay đổi giao dịch ngoại hối khi phát sinh thay đổi liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp từ Trung tâm tài chính ra nước ngoài.[51] Đối với hoạt động đầu tư gián tiếp từ Trung tâm tài chính ra nước ngoài, khi được phép thực hiện hình thức đầu tư theo quy định của pháp luật, thành viên không do nhà đầu tư nước ngoài sở hữu 100% vốn điều lệ phải chuyển tiền thông qua tài khoản thanh toán bằng ngoại tệ tại một ngân hàng thành viên (tài khoản vốn của doanh nghiệp thành viên).[52]
9. Sở giao dịch hàng hóa trong Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam
Các sàn giao dịch, nền tảng giao dịch trong Trung tâm tài chính quốc tế hoạt động trong các lĩnh vực như giao dịch hàng hóa và phái sinh hàng hóa; giao dịch tín chỉ các-bon; giao dịch sản phẩm văn hóa, nghệ thuật; giao dịch kim loại quý hiếm; giao dịch sản phẩm tài chính xanh; các giao dịch và loại hình nền tảng giao dịch mới khác theo nhu cầu phát triển, bao gồm nhưng không giới hạn các nhóm sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm năng lượng, nguyên liệu công nghiệp, kim loại (bao gồm cả kim loại quý hiếm trừ vàng), tín chỉ các-bon, sản phẩm văn hóa, nghệ thuật là tài sản số sử dụng công nghệ mã thông báo không thể thay thế (NFT).[53]
Bên cạnh đó, để thành lập Sở giao dịch hàng hóa trong Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, doanh nghiệp phải là Thành viên của Trung tâm tài chính quốc tế hoặc là công ty do Thành viên của Trung tâm tài chính quốc tế sở hữu/kiểm soát với tỷ lệ vốn góp của công ty là Thành viên chiếm tối thiểu 49% vốn điều lệ; trường hợp là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì tổng tỷ lệ vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài không vượt quá 49%. Ngoài ra, doanh nghiệp phải đáp ứng quy định về mức vốn điều lệ từ 1.500 tỷ đồng trở lên và các điều kiện khác về mô hình tổ chức hoạt động, hệ thống công nghệ thông tin, và điều lệ theo quy định.[54]
Ngoài ra, Nghị định số 330/2025/NĐ-CP cũng quy định Bộ Công thương có quyền áp dụng một hoặc đồng thời các biện pháp khẩn cấp như tạm ngừng hoặc hạn chế giao dịch trên hệ thống của Sở giao dịch hàng hóa; áp dụng chế độ kiểm soát đặc biệt đối với hệ thống công nghệ thông tin; công bố thông tin khẩn cấp về diễn biến thị trường và rủi ro tiềm ẩn; hạn chế hoặc đình chỉ quyền truy cập hệ thống đối với tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật hoặc thao túng thị trường, nhằm đảm bảo an toàn kỹ thuật, minh bạch và ổn định thị trường trong trường hợp xuất hiện nguy cơ gây mất ổn định thị trường giao dịch hàng hóa, ảnh hưởng đến an ninh kinh tế - tài chính, trật tự, an toàn xã hội, hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật nghiêm trọng liên quan đến hoạt động giao dịch tại Sở giao dịch hàng hóa trong Trung tâm tài chính quốc tế.[55]
Một điểm mới quan trọng của Nghị định số 330/2025/NĐ-CP là quy định về trung tâm thanh toán bù trừ là công ty con của Sở giao dịch hàng hóa, có vốn điều lệ tối thiểu 500 tỷ đồng, thực hiện chức năng cung ứng dịch vụ bù trừ cho các giao dịch mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa trong Trung tâm tài chính quốc tế.[56] Đồng thời, trung tâm thanh toán bù trừ được thực hiện dịch vụ thanh toán bù trừ cho một hoặc nhiều Sở giao dịch hàng hóa.[57]
[1] Nghị quyết số 222/2025/QH15 về Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, được Quốc hội thông qua ngày 27 tháng 6 năm 2025 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 9 năm 2025 (“Nghị quyết số 222/2025/QH15”).
[2] Nghị định số 323/2025/NĐ-CP về thành lập Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, được Chính phủ ban hành ngày 18 tháng 12 năm 2025 (“Nghị định số 323/2025/NĐ-CP”).
[3] Nghị định số 323/2025/NĐ-CP, Điều 10
[4] Nghị định số 323/2025/NĐ-CP, khoản 1 Điều 14
[5] Nghị định số 323/2025/NĐ-CP, khoản 2 Điều 14
[6] Nghị định số 324/2025/NĐ-CP về chính sách tài chính trong Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, được Chính phủ ban hành ngày 18 tháng 12 năm 2025 (“Nghị định số 324/2025/NĐ-CP”).
[7] Nghị định số 324/2025/NĐ-CP, khoản 1 Điều 7
[8] Nghị định số 324/2025/NĐ-CP, khoản 2 Điều 7
[9] Nghị định số 324/2025/NĐ-CP, điểm c khoản 2 Điều 7
[10] Nghị định số 324/2025/NĐ-CP, điểm b khoản 2 Điều 7
[11] Nghị định số 324/2025/NĐ-CP, khoản 2 Điều 8
[12] Nghị định số 324/2025/NĐ-CP, khoản 3 Điều 8
[13] Nghị quyết số 222/2025/QH15, khoản 4, khoản 5 và khoản 6 Điều 10
“Điều 10. Đăng ký, công nhận và chấm dứt tư cách thành viên
[…]
4. Nhà đầu tư là ngân hàng nước ngoài, ngân hàng thương mại trong nước phải thành lập hiện diện tại Trung tâm tài chính quốc tế theo hình thức quy định tại khoản 1 Điều 17 của Nghị quyết này.
5. Nhà đầu tư hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán phải thành lập hiện diện dưới hình thức là công ty trách nhiệm hữu hạn theo Giấy phép thành lập và hoạt động do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp. Các tổ chức này chỉ được cung cấp dịch vụ tại Trung tâm tài chính quốc tế và nước ngoài. Việc cấp phép thành lập, phạm vi hoạt động, nội dung hoạt động và các vấn đề liên quan khác của tổ chức nêu trên thực hiện theo quy định của Chính phủ.
6. Nhà đầu tư hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phải thành lập hiện diện dưới hình thức là công ty trách nhiệm hữu hạn theo Giấy phép thành lập và hoạt động do Bộ Tài chính cấp. Việc cấp phép thành lập, phạm vi hoạt động, nội dung hoạt động và các vấn đề liên quan khác của tổ chức nêu trên thực hiện theo quy định của Chính phủ.”
[14] Nghị định số 324/2025/NĐ-CP, khoản 2 Điều 4.
[15] Nghị định số 324/2025/NĐ-CP, khoản 3 Điều 4.
[16] Nghị quyết số 222/2025/QH15, khoản 2 Điều 10.
[17] Nghị định số 325/2025/NĐ-CP về lao động, việc làm và an sinh xã hội trong Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, được Chính phủ ban hành ngày 18 tháng 12 năm 2025 (“Nghị định số 325/2025/NĐ-CP”).
[18] Nghị định số 325/2025/NĐ-CP, khoản 2 Điều 3.
[19] Nghị định số 325/2025/NĐ-CP, khoản 2 Điều 8.
[20] Nghị định số 219/2025/NĐ-CP quy định về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, ban hành ngày 07 tháng 8 năm 2025 (“Nghị định số 219/2025/NĐ-CP”), khoản 3 Điều 22.
[21] Nghị định số 325/2025/NĐ-CP, Điều 9.
[22] Nghị định số 219/2025/NĐ-CP, khoản 1 Điều 21.
[23] Luật bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2024, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025 (“Luật Bảo hiểm xã hội 2025”), khoản 2 Điều 2:
“Điều 2. Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện
[...]
2. Người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc khi làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên với người sử dụng lao động tại Việt Nam, trừ các trường hợp sau đây:
a) Di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam;
b) Tại thời điểm giao kết hợp đồng lao động đã đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 2 Điều 169 của Bộ luật Lao động;
c) Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.”
[24] Nghị định số 325/2025/NĐ-CP, khoản 2 Điều 10.
[25] Nghị định số 325/2025/NĐ-CP, khoản 3 Điều 10.
[26] Nghị định số 325/2025/NĐ-CP, khoản 2 Điều 11.
[27] Nghị định số 326/2025/NĐ-CP về đất đai và môi trường trong Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, được Chính phủ ban hành ngày 18 tháng 12 năm 2025 (“Nghị định số 326/2025/NĐ-CP”).
[28] Nghị định số 326/2025/NĐ-CP, Điều 3.
[29] Nghị quyết số 222/2025/QH15, khoản 1 Điều 22.
[30] Nghị định số 326/2025/NĐ-CP, khoản 1 Điều 4.
[31] Nghị định số 326/2025/NĐ-CP, khoản 3 Điều 4.
[32] Nghị định số 326/2025/NĐ-CP, khoản 4 Điều 4.
[33] Nghị định số 327/2025/NĐ-CP quy định về chính sách nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú đối với người nước ngoài tại Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, được Chính phủ ban hành ngày 18 tháng 12 năm 2025 (“Nghị định số 327/2025/NĐ-CP”).
[34] Nghị định số 327/2025/NĐ-CP, Điều 4.
[35] Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam số 47/2014/QH13 được ban hành ngày 16 tháng 6 năm 2014, Điều 38 được sửa đổi tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam số 51/2019/QH14 ban hành ngày 25 tháng 11 năm 2019, khoản 16 Điều 1.
[36] Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam số 47/2014/QH13 được ban hành ngày 16 tháng 6 năm 2014, Điều 9, được sửa đổi tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam số 51/2019/QH14 ban hành ngày 25 tháng 11 năm 2019, điểm đ khoản 4 Điều 1.
[37] Nghị định số 327/2025/NĐ-CP, khoản 3 Điều 4.
[38] Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam số 47/2014/QH13 được ban hành ngày 16 tháng 6 năm 2014, điểm c khoản 2 Điều 37.
[39] Nghị quyết số 222/2025/QH15, điểm c, khoản 1 Điều 9.
[40] Nghị định số 328/2025/NĐ-CP về Trung tâm Trọng tài quốc tế thuộc Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, ban hành ngày 18 tháng 12 năm 2025 (“Nghị định số 328/2025/NĐ-CP”), khoản 2 Điều 5.
[41] Nghị định số 328/2025/NĐ-CP, khoản 1 Điều 7.
[42] Nghị định số 328/2025/NĐ-CP, khoản 5 Điều 4.
[43] Nghị định số 329/2025/NĐ-CP, khoản 1 Điều 84.
[44] Nghị định số 329/2025/NĐ-CP, khoản 3 Điều 84.
[45] Nghị định số 329/2025/NĐ-CP, Điều 92.
[46] Nghị định số 329/2025/NĐ-CP, khoản 2 Điều 86.
[47] Nghị định số 329/2025/NĐ-CP, khoản 3 Điều 86.
[48] Nghị định số 329/2025/NĐ-CP, Điều 88.
[49] Nghị định số 329/2025/NĐ-CP, Điều 90 và Điều 91.
[50] Nghị định số 329/2025/NĐ-CP, Điều 94.
[51] Nghị định số 329/2025/NĐ-CP, khoản 1 Điều 95.
[52] Nghị định số 329/2025/NĐ-CP, khoản 2 Điều 95.
[53] Nghị quyết số 222/2025/QH15, Điều 13 và Nghị định số 330/2025/NĐ-CP về thành lập và hoạt động của Sở giao dịch hàng hóa trong Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam, được Chính Phủ ban hành ngày 18 tháng 12 năm 2025 (“Nghị định số 330/2025/NĐ-CP”), Điều 12.
[54] Nghị định số 330/2025/NĐ-CP, Điều 4.
[55] Nghị định số 330/2025/NĐ-CP, Điều 11.
[56] Nghị định số 330/2025/NĐ-CP, Điều 13.
[57] Nghị định số 330/2025/NĐ-CP, khoản 4 Điều 13.
Tác giả:
Bùi Thị Việt Hà: Luật sư Thành viên, Dentons Luật Việt
Trần Hà Anh: Luật sư Cộng sự, Dentons Luật Việt
Đoàn Hà Yến Nhi: Trợ lý Luật sư, Dentons Luật Việt