Những điểm chính của Luật Sửa Đổi Luật Thương mại

Những điểm chính của Luật Sửa Đổi Luật Thương mại

Ngày 21/01/2026, Bộ Công Thương đã công bố hồ sơ chính sách của Dự án Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Quản lý ngoại thương, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (“Luật Sửa Đổi”) để lấy ý kiến rộng rãi của các tổ chức, cá nhân theo quy định pháp luật. Theo kế hoạch, Luật Sửa Đổi sẽ được trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI (tháng 10/2026)[1].

Điểm đáng chú ý của Luật Sửa Đổi là việc sửa đổi Luật Thương mại 2005 với các nội dung nổi bật như: (i) Bãi bỏ các quy định về hợp đồng và giải quyết tranh chấp; (ii) Bãi bỏ quy định về chế tài thương mại; (iii) Bãi bỏ quy định về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện; (iv) Luật hóa khái niệm hàng giả; và (v) Bãi bỏ điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định thương mại. Những định hướng này được kỳ vọng sẽ tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn, qua đó tạo môi trường kinh doanh thông thoáng và thuận lợi hơn cho các tổ chức, cá nhân và cơ quan quản lý nhà nước. Dưới đây là các phân tích đối với nội dung chính của Luật Sửa Đổi liên quan đến Luật Thương mại 2005.

1. Bãi bỏ nội dung về hợp đồng và giải quyết tranh chấp

Nhiều quy định của Luật Thương mại 2005 về hợp đồng và giải quyết tranh chấp đang có nội dung trùng lặp, tương đồng về bản chất pháp lý với các quy định chung về hợp đồng trong Bộ luật Dân sự 2015 (“BLDS 2015”). Cụ thể, Điều 24 và Điều 74 Luật Thương mại 2005 quy định hợp đồng mua bán hàng hoá và hợp đồng dịch vụ phải được thể hiện bằng hình thức lời nói, văn bản hoặc được hành vi cụ thể. Trường hợp pháp luật quy định hợp đồng phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo quy định đó. Trong khi đó, khoản 1 Điều 119 BLDS 2015 cũng đã có quy định tương tự.

Ngoài ra, Mục 2 Chương II (Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa) và Mục 2 Chương III (Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng dịch vụ) của Luật Thương mại 2005 có nội dung tương đồng với chế định về hợp đồng mua bán tài sản và hợp đồng dịch vụ trong BLDS 2015. Mục 2 Chương VII của Luật Thương mại 2005 về giải quyết tranh chấp trong thương mại cũng có phạm vi điều chỉnh liên quan đến các vấn đề đã được quy định tương đối toàn diện trong BLDS và các luật tố tụng chuyên ngành.

Do đó, theo định hướng của Luật Sửa Đổi, các quy định trên của Luật Thương mại 2005 dự kiến sẽ được bãi bỏ. Việc điều chỉnh này nhằm bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật. Theo đó, Luật Thương mại, với vai trò là luật chuyên ngành, sẽ chỉ tập trung quy định những nội dung đặc thù của hoạt động thương mại, thay vì lặp lại các nguyên tắc chung đã được quy định trong BLDS 2015.

2. Bãi bỏ nội dung về chế tài thương mại

Hệ thống các chế tài thương mại được quy định tại Mục 1 Chương VII của Luật Thương mại 2005 về bản chất là các hình thức trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng, bao gồm: buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, buộc bồi thường thiệt hại, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng và các biện pháp khác do các bên thỏa thuận[2].

Tuy nhiên, một số quy định của Luật Thương mại về chế tài trong thương mại hiện có sự chồng chéo với BLDS. Ví dụ, Điều 301 Luật Thương mại 2005 đặt ra giới hạn mức phạt vi phạm nghĩa vụ hợp đồng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trong khi Điều 418 BLDS 2015 cho phép các bên tự do thỏa thuận về mức phạt vi phạm. Sự khác biệt này dẫn đến các cách hiểu và áp dụng pháp luật chưa thống nhất trong thực tiễn.

Đồng thời, Luật Thương mại quy định trong trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm, bên bị vi phạm có quyền áp dụng đồng thời chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại[3]. Trong khi đó, BLDS 2015 lại quy định, nếu các bên chỉ thỏa thuận về phạt vi phạm mà không thỏa thuận về việc đồng thời chịu phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm chỉ phải chịu phạt vi phạm[4].

Có thể thấy, các quy định nêu trên điều chỉnh cùng một vấn đề nhưng chưa thống nhất. Do đó, theo định hướng của Luật Sửa Đổi, việc bãi bỏ các quy định của Luật Thương mại 2005 về chế tài thương mại sẽ giúp thống nhất áp dụng theo quy định của BLDS 2015, góp phần khắc phục tình trạng chồng chéo, cũng như góp phần bảo đảm nguyên tắc tự do thỏa thuận của các bên trong quan hệ hợp đồng.

3. Bãi bỏ quy định về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện

Trong quá trình rà soát việc triển khai Luật Thương mại 2005, Bộ Công Thương ghi nhận sự chồng chéo giữa các quy định của Luật Thương mại và Luật Đầu tư liên quan đến hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện. Cụ thể, Luật Thương mại 2005 quy định tại Điều 25 về hàng hóa cấm kinh doanh, hàng hóa hạn chế kinh doanh và hàng hóa kinh doanh có điều kiện, và Điều 76 quy định về dịch vụ cấm kinh doanh, dịch vụ hạn chế kinh doanh và dịch vụ kinh doanh có điều kiện. Trong khi đó, Luật Đầu tư 2025 đã thiết lập khung pháp lý thống nhất về ngành, nghề đầu tư kinh doanh và ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Do đó, Bộ Công Thương đề xuất bãi bỏ các quy định của Luật Thương mại 2005 liên quan đến hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện, để bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật theo khung quy định của Luật Đầu tư 2025.[5]

4. Luật hóa khái niệm hàng giả

Luật Thương mại 2005 đã đề cập đến thuật ngữ “hàng giả” trong một số điều khoản nhưng chưa đưa ra khái niệm chính thức. Tính đến thời điểm hiện tại, khái niệm này chủ yếu được quy định tại các văn bản dưới luật, tiêu biểu là Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ban hành ngày 26/8/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 17/2022/NĐ-CP và Nghị định số 24/2025/NĐ-CP.

Việc thiếu vắng khái niệm này trong Luật Thương mại 2005 dẫn đến tình trạng quy định phân tán, cách hiểu và áp dụng không đồng nhất giữa các cơ quan thực thi, gây khó khăn trong xử lý vi phạm, đặc biệt là trong các hoạt động thương mại mới như thương mại điện tử, kinh doanh trên nền tảng số. Trong bối cảnh Đảng và Nhà nước tăng cường yêu cầu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và tăng cường đấu tranh chống hàng giả, việc luật hóa khái niệm này ở cấp luật là cần thiết. Bổ sung định nghĩa “hàng giả” vào Luật Thương mại sẽ bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho quản lý và xử lý vi phạm, đồng thời bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và doanh nghiệp trong bối cảnh thương mại điện tử, kinh tế số phát triển.[6]

Luật Sửa Đổi dự định bổ sung thêm một khoản tại Điều 3 của Luật Thương mại 2005 về giải thích từ ngữ liên quan đến hàng giả, cụ thể:

““Hàng giả” bao gồm:

a) Hàng hóa có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi hoặc giá trị sử dụng, công dụng dự định của hàng hóa; hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng hoặc có giá trị sử dụng, công dụng không đúng so với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký;

b) Hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản hoặc định lượng chất chính tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa đạt tỷ lệ dưới mức do Chính phủ quy định so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;

c) Thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; không có đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; có ít nhất một trong các hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng;

d) Hàng hóa có nhãn hàng hóa hoặc bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo tên, địa chỉ tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc nhập khẩu, phân phối hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã số công bố, mã số mã vạch của hàng hóa hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của tổ chức, cá nhân khác; giả mạo về nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa hoặc nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa;

đ) Tem, nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa giả bao gồm: đề can, nhãn hàng hóa (bao gồm cả nhãn điện tử, hộ chiếu số của sản phẩm, hàng hóa), bao bì hàng hóa, các loại tem chất lượng, dấu chất lượng, tem truy xuất nguồn gốc, phiếu bảo hành, niêm màng co hàng hóa hoặc vật phẩm khác của tổ chức, cá nhân kinh doanh có chỉ dẫn giả mạo tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân khác; giả mạo tên thương mại, tên thương phẩm, mã số mã vạch, mã số đăng ký lưu hành, mã số công bố của hàng hóa hoặc bao bì hàng hóa của tổ chức, cá nhân khác.

e) Hàng hóa khác mà Luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội có quy định là hàng giả”.

5. Bãi bỏ điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định thương mại

Luật Đầu tư 2025 đã bãi bỏ ngành nghề kinh doanh dịch vụ giám định thương mại khỏi Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Trong bối cảnh đó, việc sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan tại Luật Thương mại, cụ thể là Điều 256 về thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương mại và Điều 257 về điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định thương mại, được xem là cần thiết nhằm bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật.

Theo định hướng sửa đổi, các quy định hiện hành mang tính tiền kiểm sẽ được rà soát và loại bỏ, đồng thời chuyển sang cơ chế quản lý hậu kiểm, phù hợp với nguyên tắc tự do kinh doanh gắn với trách nhiệm pháp lý của thương nhân cung ứng dịch vụ giám định. Cụ thể, Điều 256 Luật Thương mại dự kiến được sửa đổi theo hướng khẳng định quyền tự do kinh doanh của thương nhân theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp và pháp luật có liên quan, đồng thời không đặt ra yêu cầu về giấy phép hoặc điều kiện đầu tư kinh doanh đối với hoạt động cung cấp dịch vụ giám định thương mại.[7]

Ngoài các nội dung nêu trên, Luật Sửa Đổi còn đề cập đến việc phân quyền, phân cấp nhằm thống nhất với Nghị định số 146/2025/NĐ-CP quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực công nghiệp và thương mại. Cần lưu ý rằng các nội dung được công bố hiện nay trong Luật Sửa Đổi mới dừng ở mức chính sách định hướng, trong quá trình xây dựng dự thảo luật, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục nghiên cứu và lấy ý kiến rộng rãi từ các chuyên gia, nhà khoa học và các đối tượng chịu tác động. Các định hướng này được kỳ vọng sẽ khắc phục tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật về đầu tư, kinh doanh, qua đó tạo lập môi trường kinh doanh minh bạch, ổn định hơn cho doanh nghiệp, đồng thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình áp dụng Luật Thương mại 2005.


[1] Nghị quyết 105/2025/UBTVQH15 - Điểm t khoản 2 Điều 1, sửa đổi bởi Nghị quyết 119/2026/UBTVQH15.

[2] Luật Thương mại 2005 - Điều 292

[3] Luật Thương mại 2005 - Điều 307

[4] Bộ luật Dân sự 2015 - Khoản 3 Điều 418

[5] Bộ Công Thương, Bản Thuyết minh quy phạm hóa chính sách của Luật Sửa Đổi luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thương mại,Luật Cạnh tranh, Luật Quản lý ngoại thương, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ngày 20/01/2026

[6] Bộ Công Thương, Báo cáo tổng kết thi hành pháp luật liên quan đến chính sách của Luật Sửa Đổi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Quản lý ngoại thương, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ngày 16/01/2026

[7] Bộ Công Thương, Bản Thuyết minh quy phạm hóa chính sách của Luật Sửa Đổi luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thương mại,Luật Cạnh tranh, Luật Quản lý ngoại thương, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ngày 20/01/2026

Tác giả:
Nguyễn Đức Anh: Luật sư Cộng sự Cao cấp, Dentons Luật Việt
Quách Khánh Linh: Trợ lý Luật sư, Dentons Luật Việt
Phạm Thanh Thủy: Trợ lý Luật sư, Dentons Luật Việt

Great! You’ve successfully signed up.

Welcome back! You've successfully signed in.

You've successfully subscribed to Tập San Luật sư Nội bộ.

Success! Check your email for magic link to sign-in.

Success! Your billing info has been updated.

Your billing was not updated.