Tăng tính bảo mật đối với hoạt động thẻ ngân hàng theo Thông tư 45/2025/TT-NHNN
Trong bối cảnh thanh toán không dùng tiền mặt càng trở nên phổ biến, tội phạm công nghệ cao liên
I. Đặt vấn đề
Trong thực tiễn giao dịch thương mại và dân sự, việc hàng hóa hoặc dịch vụ được cung cấp không đúng cam kết là tình huống thường gặp. Khi phát sinh tranh chấp, ngoài các biện pháp như phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại, buộc thực hiện hành vi nhất định, một biện pháp có thể áp dụng là giảm giá đối với nghĩa vụ thanh toán còn lại hoặc giảm giá cho các đơn hàng tiếp theo.
Tuy nhiên, câu hỏi lớn đặt ra là: Giảm giá là một chế tài pháp lý hay là một quyền của bên mua hàng hóa, dịch vụ? Bởi nếu là chế tài thì phải có hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra, còn nếu là quyền thì nó là đương nhiên và có thể áp dụng trong các trường hợp cụ thể mà không cần đến yếu tố vi phạm. Bài viết này giúp làm rõ cơ chế, bản chất pháp lý, và vị trí của biện pháp giảm giá trong hệ thống luật Việt Nam.
II. Khung pháp lý hiện hành về giảm giá
Pháp luật Việt Nam có nhiều quy định trực tiếp công nhận quyền giảm giá khi hàng hóa, dịch vụ hoặc tài sản không đáp ứng đúng hợp đồng, bao gồm:
Về hợp đồng mua bán, khoản 1 Điều 445 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015) quy định rõ rằng bên mua phát hiện khuyết tật vật mua bán có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa, đổi vật khác, giảm giá và bồi thường thiệt hại.
Về bảo hành, Điều 447 và khoản 3 Điều 448 BLDS 2015 quy định trong thời hạn bảo hành, bên mua có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa không phải trả tiền, giảm giá, đổi vật khác hoặc trả lại vật. Đây là quyền của bên mua khi sản phẩm không đạt chất lượng cam kết. Khoản 4 Điều 270 Luật Thương mại 2005 (LTM 2005) quy định trường hợp việc sửa chữa và bảo dưỡng hàng hóa cho thuê gây phương hại đến việc sử dụng hàng hóa đó của bên thuê thì phải có trách nhiệm giảm giá thuê hoặc kéo dài thời hạn cho thuê tương ứng với thời gian bảo dưỡng, sửa chữa.
Về hợp đồng dịch vụ, khoản 4 Điều 519 BLDS 2015 quy định nếu dịch vụ không đạt thỏa thuận hoặc không hoàn thành đúng thời hạn, bên sử dụng dịch vụ có quyền giảm tiền dịch vụ và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Về hợp đồng thuê tài sản, khoản 2 Điều 476 BLDS 2015 quy định bên thuê có quyền yêu cầu giảm giá thuê nếu tài sản thuê không đúng chất lượng như thỏa thuận.
Về hợp đồng thuê khoán, khoản 3 Điều 488 BLDS 2015 quy định khi giao kết hợp đồng thuê khoán, các bên có thể thỏa thuận điều kiện về việc giảm tiền thuê khoán; nếu hoa lợi, lợi tức bị mất ít nhất là một phần ba do sự kiện bất khả kháng thì bên thuê khoán có quyền yêu cầu giảm hoặc miễn tiền thuê khoán, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Đặc biệt, Công ước Vienna 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG), có hiệu lực với Việt Nam từ 01/01/2017, quy định cụ thể quyền giảm giá tại Điều 50: “Trong trường hợp hàng hóa không phù hợp hợp đồng, dù tiền hàng đã được trả hay chưa, người mua có thể giảm giá theo tỷ lệ căn cứ vào sự sai biệt giữa giá trị thực của hàng hóa vào lúc giao hàng và giá trị của hàng hóa nếu hàng phù hợp hợp đồng vào lúc giao hàng.” Quy định này khẳng định giảm giá là quyền tự nhiên của người mua khi hàng hóa không phù hợp hợp đồng, không phân biệt đã thanh toán hay chưa.
III. Bản chất pháp lý của giảm giá là chế tài hay quyền?
Để làm rõ bản chất của giảm giá, cần phân biệt rõ với các chế tài khác trong hợp đồng.
Chế tài phạt vi phạm có đặc điểm là mang tính trừng phạt và răn đe. Căn cứ áp dụng phải dựa trên thỏa thuận trong hợp đồng, cụ thể là Điều 300 LTM 2005 và khoản 1 Điều 418 BLDS 2015. Mức phạt tối đa không quá 8% giá trị vi phạm theo Điều 301 LTM 2005. Bản chất của phạt vi phạm là trừng phạt, răn đe và yêu cầu phải có hành vi vi phạm rõ ràng.
Bồi thường thiệt hại là biện pháp bù đắp thiệt hại thực tế. Để áp dụng, bên yêu cầu phải chứng minh thiệt hại theo Điều 304 LTM 2005. Phạm vi bồi thường bao gồm cả tổn thất thực tế, trực tiếp và khoản lợi trực tiếp bị mất theo khoản 2 Điều 302 LTM 2005 và Điều 419 BLDS 2015. Bồi thường thiệt hại có thể kết hợp với phạt vi phạm theo khoản 3 Điều 418 BLDS 2015.
Giảm giá có sự khác biệt cơ bản so với hai chế tài nêu trên. Căn cứ áp dụng có thể dựa trên thỏa thuận hoặc theo quy định của BLDS 2015 và LTM 2005 như đã phân tích. Mức giảm giá không bị giới hạn cố định mà phụ thuộc vào mức giảm sút giá trị thực tế của hàng hóa, dịch vụ. Về bản chất, giảm giá nhằm bù đắp phần chất lượng hàng hóa, dịch vụ bị giảm sút, mà không phải để trừng phạt hay khắc phục thiệt hại, và là quyền của bên mua khi hàng hóa, dịch vụ không đạt cam kết, quyền này không nhất thiết gắn với hành vi vi phạm hợp đồng. Ngoài ra, một số điều khoản của BLDS 2015 quy định rõ bên mua có quyền yêu cầu bên bán giảm giá và bồi thường thiệt hại; từ đó có thể hiểu rằng giảm giá là một quyền độc lập, không phải là biện pháp bồi thường thiệt hại.
Giảm giá không phải là chế tài pháp lý mà là biện pháp khắc phục được pháp luật công nhận. Bên mua có quyền này ngay khi phát hiện hàng hóa, dịch vụ không phù hợp với hợp đồng, không cần chờ đợi xác định hành vi vi phạm hay chứng minh lỗi của bên cung cấp. Điều này cũng phù hợp với nguyên tắc của CISG.
IV. Các trường hợp áp dụng không cần hành vi vi phạm
Trường hợp hàng hóa có khuyết tật: Khi bên mua phát hiện khuyết tật vật mua bán, ngay lập tức có quyền yêu cầu giảm giá theo khoản 1 Điều 445 BLDS 2015. Quyền này tồn tại độc lập với việc xác định lỗi của bên bán. Ngay cả khi khuyết tật phát sinh do nguyên nhân khách quan, bên mua vẫn có quyền yêu cầu giảm giá tương ứng với mức độ giảm sút giá trị.
Trường hợp trong thời hạn bảo hành: Điều 447 và khoản 3 Điều 448 BLDS 2015 quy định trong thời hạn bảo hành, bên mua có quyền yêu cầu giảm giá nếu hàng hóa không đạt chất lượng. Quyền này không phụ thuộc vào việc bên bán có vi phạm nghĩa vụ bảo hành hay không. Ngay cả khi bên bán đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo hành nhưng hàng hóa vẫn không đáp ứng được yêu cầu sử dụng, bên mua có quyền yêu cầu giảm giá.
Trường hợp dịch vụ không đạt thỏa thuận: Theo khoản 4 Điều 519 BLDS 2015, nếu dịch vụ không đạt thỏa thuận hoặc không hoàn thành đúng thời hạn, bên sử dụng dịch vụ có quyền giảm tiền dịch vụ. Quyền này phát sinh ngay khi chất lượng dịch vụ không đáp ứng tiêu chuẩn đã cam kết, không cần chứng minh bên cung cấp dịch vụ có lỗi.
Trường hợp tài sản thuê không đúng chất lượng: Khoản 2 Điều 476 BLDS 2015 quy định bên thuê có quyền yêu cầu giảm giá thuê nếu tài sản thuê không đúng chất lượng như thỏa thuận. Quyền này tồn tại độc lập với việc xác định lỗi của bên cho thuê.
Trường hợp bất khả kháng trong hợp đồng thuê khoán: Khoản 3 Điều 488 BLDS 2015 quy định nếu hoa lợi, lợi tức bị mất ít nhất là một phần ba do sự kiện bất khả kháng thì bên thuê khoán có quyền yêu cầu giảm hoặc miễn tiền thuê khoán. Đây là trường hợp rõ ràng nhất cho thấy giảm giá là quyền tự nhiên không cần hành vi vi phạm, vì bất khả kháng là sự kiện ngoài ý chí các bên.
V. Thực tiễn áp dụng và vấn đề pháp lý
Mặc dù pháp luật đã công nhận quyền giảm giá, thực tiễn áp dụng còn gặp nhiều khó khăn.
Vấn đề thứ nhất là mối quan hệ với các biện pháp khác chưa rõ ràng. Giảm giá và bồi thường thiệt hại có thể kết hợp theo khoản 1 Điều 445, khoản 4 Điều 519, khoản 2 Điều 476 BLDS 2015, nhưng chưa được luật làm rõ biện pháp tính toán, phạm vi áp dụng cụ thể.
Vấn đề thứ hai liên quan đến việc áp dụng biện pháp giảm giá trong thương mại. Theo Luật Thương mại 2005, các chế tài áp dụng khi vi phạm hợp đồng bao gồm: buộc thực hiện đúng hợp đồng, phạt vi phạm, buộc bồi thường thiệt hại, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng, hủy bỏ hợp đồng và các biện pháp khác do các bên thỏa thuận; nhưng không quy định giảm giá như một chế tài độc lập. Tuy nhiên, theo khoản 3 Điều 4 BLDS 2015, khi LTM 2005 không có quy định cụ thể, sẽ áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự. Do đó, bên mua có quyền áp dụng giảm giá trong các giao dịch thương mại.
VI. Kết luận
Từ phân tích trên có thể rút ra kết luận rằng giảm giá là một quyền được công nhận trong hệ thống pháp luật hợp đồng Việt Nam, không phải chế tài pháp lý. Việc nhận thức đúng bản chất này sẽ giúp các bên trong quan hệ hợp đồng bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình một cách hiệu quả hơn.
Tác giả:
Nguyễn Thị Cẩm Tiên: Luật sư Cộng sự, Dentons Luật Việt