Xây dựng Bộ phận Pháp chế có khả năng Thích ứng, Đổi mới và Sẵn sàng cho Các thách thức tương lai
Tiếp nối thành công của tuần đầu tiên, chuỗi Chương trình Trải nghiệm Khách hàng Dentons bước sang tuần thứ
Vào tháng 9/2025 vừa qua, Bộ Tài Chính đã công bố bản dự thảo đầu tiên của Luật Đầu Tư Kinh Doanh (“Dự Thảo”) nhằm thay thế toàn diện Luật Đầu Tư hiện hành. Theo kế hoạch, Dự Thảo được trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV (bắt đầu vào tháng 10/2025). Trường hợp được thông qua, Luật Đầu Tư Kinh Doanh dự kiến có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2026.
Dự Thảo có nhiều thay đổi quan trọng như sau:
Đầu tiên, Dự Thảo thu hẹp phạm vi dự án thuộc diện phải thực hiện chấp thuận chủ trương đầu tư (“CTCTĐT”). Theo đó, chỉ những dự án có tác động lớn đến môi trường hoặc tiềm ẩn nguy cơ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, dự án ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh và một số trường hợp đặc biệt khác mới phải thực hiện CTCTĐT.
Tiếp theo, Dự Thảo điều chỉnh thẩm quyền quyết định CTCTĐT theo hướng tinh gọn và tập trung hơn. Cụ thể, chỉ còn Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch UBND cấp tỉnh có thẩm quyền CTCTĐT:
Cuối cùng, Dự Thảo không quy định chi tiết trình tự, thủ tục và hồ sơ CTCTĐT trong luật. Chính phủ sẽ quy định cụ thể các vấn đề này tại các nghị định và văn bản hướng dẫn thi hành. Cách tiếp cận này nhằm đảm bảo tính linh hoạt, phù hợp với nguyên tắc luật chỉ quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc, nền tảng, trong khi các quy định cần điều chỉnh theo thực tiễn sẽ được Chính phủ chủ động ban hành và sửa đổi khi cần thiết.
Đặc biệt, Dự Thảo bổ sung quy định mới với các trường hợp không thuộc diện CTCTĐT nhằm đơn giản hoá thủ tục và giải quyết các vướng mắc hiện hữu giữa Luật Đầu Tư hiện hành và các luật chuyên ngành[3]. Cụ thể, trừ các dự án quy định thuộc diện CTCTĐT của Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch UBND cấp tỉnh, nhà đầu tư không phải thực hiện thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư trong các trường hợp sau đây:
(i) Dự án đầu tư đã được xác định cụ thể về tên dự án; quy mô; mục tiêu; địa điểm; nhà đầu tư; tiến độ, thời hạn tại quy hoạch ngành quốc gia hoặc quy hoạch tỉnh;
(ii) Dự án đầu tư được lựa chọn nhà đầu tư thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án đầu tư có sử dụng đất;
(iii) Nhà đầu tư trúng đấu giá quyền khai thác khoáng sản;
(iv) Nhà đầu tư được giao đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp theo quy định pháp luật về quản lý, phát triển cụm công nghiệp; và
(v) Trường hợp khác theo quy định của Chính phủ.
2. Giảm rào cản cho nhà đầu tư nước ngoài thành lập tổ chức kinh tế tại Việt Nam
Tại Điều 22 Luật Đầu Tư 2020 quy định nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp, điều chỉnh GCNĐKĐT trước khi thành lập tổ chức kinh tế. Điều này chưa tạo ra sự bình đẳng giữa nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài, đồng thời làm giảm tính hấp dẫn đối với nhà đầu tư nước ngoài khi thực hiện đầu tư theo hình thức thành lập tổ chức kinh tế tại Việt Nam.
Do đó, Dự Thảo đã nới lỏng quy định theo hướng cho phép nhà đầu tư nước ngoài được thành lập tổ chức kinh tế thực hiện dự án đầu tư trước khi được cấp GCNĐKĐT. Điều này tạo điều kiện thúc đẩy, thu hút đầu tư và gia tăng mức đối xử bình đẳng giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước khi thực hiện hoạt động kinh doanh tại Việt Nam.
3. Quy định mới về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và điều kiện đầu tư kinh doanh
Điều 7 của Dự Thảo đã làm rõ hơn khái niệm “điều kiện đầu tư kinh doanh”. Theo đó, “Điều kiện đầu tư kinh doanh là yêu cầu, điều kiện về năng lực, trình độ chuyên môn, nhân lực, cơ sở vật chất, hệ thống quản lý mà cá nhân, tổ chức phải đáp ứng, không bao gồm các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật mà cấp có thẩm quyền ban hành về chất lượng sản phẩm, dịch vụ” nhằm tách bạch và tránh nhầm lẫn cho các tổ chức và doanh nghiệp trong quá trình tuân thủ pháp luật.
Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được quy định tại Phụ lục IV của Luật Đầu tư 2020 đã bị bãi bỏ. Thay vào đó, Chính phủ sẽ ban hành Danh mục mới cùng các điều kiện đầu tư kinh doanh tương ứng và công bố trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Đặc biệt, Bộ Tài chính đề xuất bãi bỏ 16 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, trong đó bao gồm một số ngành đáng chú ý như dịch vụ kế toán, xuất khẩu gạo, dịch vụ việc làm, cho thuê lại lao động và tư vấn du học. Đây là bước cải cách quan trọng, thể hiện nỗ lực cập nhật chính sách theo xu hướng phát triển nền kinh tế, loại bỏ các rào cản không phù hợp, và gia tăng sự cạnh tranh, linh hoạt của thị trường.
4. Chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư
4.1. Ngành, nghề ưu đãi đầu tư
Dự Thảo cũng thay đổi cách tiếp cận đối với quy định về ngành, nghề được ưu đãi đầu tư[5]. Các ngành, nghề này sẽ không còn được liệt kê cụ thể trong luật như hiện hành. Thay vào đó, Dự Thảo xác định ngành, nghề ưu đãi đầu tư là những ngành, nghề được ưu tiên thu hút đầu tư để thực hiện các mục tiêu như phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp; bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên; sử dụng nhiều lao động, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ, kinh tế số… Danh mục cụ thể các ngành, nghề ưu đãi đầu tư sẽ do Chính phủ quy định nhằm tạo sự chủ động trong việc xác định ngành, nghề phù hợp với từng thời kỳ; đồng thời tạo cơ chế để các Bộ, ngành rà soát, thu hẹp lại các ngành, nghề ưu đãi đầu tư đã được quy định trước đây, đảm bảo tính trọng tâm, trọng điểm của chính sách ưu đãi đầu tư.
Ngành, nghề ưu đãi đầu tư được quy định thống nhất tại pháp luật về đầu tư. Các luật chuyên ngành và văn bản dưới luật khác sẽ không quy định về ngành, nghề ưu đãi đầu tư.
4.2. Ưu đãi đầu tư đặc biệt
Chính phủ sẽ quyết định việc áp dụng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt nhằm khuyến khích phát triển một số dự án đầu tư có tác động lớn đến phát triển kinh tế - xã hội. Thủ Tướng có quyền quyết định áp dụng các ưu đãi đầu tư khác trong trường hợp cần khuyến khích phát triển một dự án đầu tư đặc biệt quan trọng hoặc đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.
5. Quản lý hoạt động đầu tư ra nước ngoài
Bộ Tài chính hiện đang có 02 phương án xây dựng quy định đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài:
(i) Phương án 1: Bãi bỏ thủ tục đầu tư ra nước ngoài thay bằng sử dụng phương thức quản lý ngoại hối
Ở phương án này, quy định về thủ tục CTCTĐT ra nước ngoài cùng với thủ tục cấp GCNĐKĐT ra nước ngoài thuộc thẩm quyền của Bộ Tài chính sẽ được bãi bỏ. Thay vào đó, Nhà đầu tư tiến hành đăng ký với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc chuyển tiền ra nước ngoài.
Phương án này giúp cắt giảm nhiều thủ tục hành chính, tiết kiệm thời gian, chi phí cho nhà đầu tư, cũng như góp phần thúc đẩy và gia tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt Nam, tạo điều kiện cho nhà đầu tư tiếp cận nhanh hơn cơ hội đầu tư ở nước ngoài.
Hơn thế nữa, Ngân hàng Nhà nước hiện đang là cơ quan quản lý hoạt động đầu tư gián tiếp ra nước ngoài. Do đó, việc Ngân hàng Nhà nước quản lý cả hoạt động đầu tư trực tiếp là phù hợp để nắm bắt tổng thể dòng vốn của Việt Nam ra nước ngoài và đồng thời góp phần hỗ trợ hiệu quả công tác phòng chống rửa tiền.
(ii) Phương án 2: Đơn giản hoá thủ tục đầu tư ra nước ngoài
Bãi bỏ thủ tục CTCTĐT ra nước ngoài. Đồng thời, thu hẹp các dự án phải thực hiện thủ tục cấp GCNĐKĐT ra nước ngoài. Theo đó, chỉ áp dụng thủ tục GCNĐKĐT ra nước ngoài đối với các dự án có vốn đầu tư từ 20 tỷ đồng (~760.000 USD) trở lên. Đối với dự án có quy mô dưới 20 tỷ đồng thì chỉ cần thực hiện việc đăng ký giao dịch ngoại hối với Ngân hàng Nhà nước để chuyển tiền ra nước ngoài.
6. Chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư
Các trường hợp chấm dứt hoạt động dự án đầu tư quy định tại Điều 40 của Dự Thảo có nhiều bổ sung và sửa đổi đáng lưu ý như sau:
(i) Dự án đầu tư sẽ chấm dứt hoạt động khi tổ chức kinh tế thực hiện dự án bị giải thể, phá sản hoặc chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật về đăng ký doanh nghiệp. Quy định này giúp đồng bộ giữa Luật Đầu tư và các luật có liên quan, đồng thời xác định rõ hậu quả pháp lý của việc chấm dứt tư cách pháp lý của chủ thể đầu tư.
(ii) Sửa đổi quy định về trường hợp chấm dứt hoạt động dự án do thu hồi đất. Theo Luật Đầu tư hiện hành, dự án đầu tư sẽ bị chấm dứt hoặc chấm dứt một phần khi thuộc trường hợp bị thu hồi đất do không đưa đất vào sử dụng, chậm đưa đất vào sử dụng theo quy định của pháp luật về đất đai[9]. Tuy nhiên, quy định mới đã mở rộng phạm vi chấm dứt hoặc chấm dứt một phần dự án khi bao gồm các dự án thuộc trường hợp bị thu hồi đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
Theo đó, kể cả khi nhà đầu tư không vi phạm gây ra chậm trễ hoặc không sử dụng đất, ví dụ như trường hợp bị Nhà nước thu hồi đất vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc lợi ích quốc gia, công cộng, dự án vẫn có thể bị buộc chấm dứt hoạt động. Đây là điểm cần lưu ý, bởi nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư, nhất là trong các tình huống thu hồi đất xuất phát từ nguyên nhân có yếu tố khách quan.
Tài liệu viện dẫn:
Dự Thảo – Điều 28
Dự Thảo – Điều 26333
Luật Đầu tư 2020 – Điều 15, 16
Dự Thảo – Điều 19.6555
Luật Đầu tư 2020 – Điều 48.2(d)
Tác giả:
Nguyễn Đức Anh: Luật sư Cộng sự Cao cấp, Dentons Luật Việt
Nguyễn Khắc Tính: Luật sư Cộng sự Sơ cấp, Dentons Luật Việt
Đoàn Hà Yến Nhi: Trợ lý Luật sư, Dentons Luật Việt