Hợp đồng Xây dựng: Hợp đồng Dân sự hay Hợp đồng Thương mại?

Hợp đồng Xây dựng: Hợp đồng Dân sự hay Hợp đồng Thương mại?

Hợp đồng xây dựng là loại hợp đồng mang tính đặc thù, phức tạp và có khả năng phát sinh nhiều tranh chấp liên quan. Thông thường, các vấn đề pháp lý trong hợp đồng xây dựng được điều chỉnh bởi pháp luật xây dựng. Tuy nhiên, trong thực tiễn giải quyết tranh chấp, đôi khi phát sinh những vấn đề pháp lý mà pháp luật xây dựng không có quy định riêng. Khi đó, cần xác định tính chất pháp lý của hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự, được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự hay hợp đồng thương mại, được điều chỉnh bởi Luật Thương mại để áp dụng quy định pháp luật tương ứng. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử tại các tòa án cho thấy, việc xác định luật điều chỉnh đối với hợp đồng xây dựng vẫn còn chưa thống nhất. Đây là điểm mà các doanh nghiệp cần lưu ý để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi có tranh chấp phát sinh.

1. Hợp đồng xây dựng dưới góc nhìn pháp luật dân sự  thương mại 

Khoản 1 Điều 138 Luật Xây dựng 2014 và khoản 1 Điều 2 Nghị định 37/2015/NĐ-CP đều xác địnhHợp đồng xây dựng  hợp đồng dân sự  được thỏa thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc trong hoạt động đầu tư xây dựng”. Định nghĩa này dẫn tới trong thực tiễn, tồn tại một số quan điểm cho rằng cần xác định hợp đồng xây dựng là một hợp đồng dân sự, khi có vấn đề pháp lý phát sinh mà pháp luật xây dựng không có quy định, cần áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự để giải quyết.

Trong khi đó, Điều 3 Luật Thương mại 2005 quy định “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi”. Trong thực tế, phần lớn hợp đồng xây dựng được ký giữa các doanh nghiệp, các thương nhân nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Khi đó, hoạt động xây dựng có đầy đủ yếu tố của một hoạt động thương mại, được điều chỉnh bởi Luật Thương mại.

Sự khác biệt giữa quy định của Luật Xây dựng, Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại khiến việc xác định luật điều chỉnh cho hợp đồng xây dựng trở nên không thống nhất trong thực tiễn xét xử. Có vụ việc, Tòa áp dụng Luật Thương mại nhưng cũng có vụ việc Tòa áp dụng Bộ luật Dân sự kết hợp Luật Xây dựng dẫn đến hệ quả pháp lý khác nhau.

2. Hệ quả pháp  khác nhau khi áp dụng pháp luật khác nhau 

(a) Thời hiệu khởi kiện 

Theo Điều 319 Luật Thương mại 2005, thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp hợp đồng thương mại là 02 năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Trong khi đó, Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thời hiệu khởi kiện hợp đồng dân sự là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Sự khác biệt này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng khởi kiện của bên bị vi phạm, đặc biệt trong các dự án xây dựng kéo dài hoặc phát sinh tranh chấp sau khi công trình đã bàn giao.

Bản án số 19/2023/KDTMPT ngày 26/4/2023 của TAND tỉnh Bình Dương  

Trong vụ việc được giải quyết bởi Bản án số 19/2023/KDTMPT của TAND tỉnh Bình Dương, tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Luật Thương mại để xác định thời hiệu 02 năm và thời hiệu khởi kiện đã hết. Tuy nhiên, tòa án cấp phúc thẩm lập luận rằng “Tranh chấp giữa hai bên là “tranh chấp về hợp đồng xây dựng” phải áp dụng các quy định của Luật Xây dựng để giải quyết, trường hợp Luật Xây dựng không quy định thì áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự để giải quyết. Quá trình tố tụng, bị đơn xác định thời hiệu khởi kiện đã hết và yêu cầu áp dụng thời hiệu, Tòa án cấp sơ thẩm xác định thời hiệu khởi kiện đã hết theo quy định tại Điều 319 của Luật Thương mại để giải quyết vụ án là chưa đúng”.  

(b) Mức phạt vi phạm 

Theo khoản 2 Điều 146 Luật Xây dựng 2014, mức phạt vi phạm hợp đồng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm, song giới hạn này chỉ áp dụng đối với công trình sử dụng vốn nhà nước. Đối với các dự án tư nhân, pháp luật xây dựng không quy định giới hạn mức phạt vi phạm. Trong khi đó, nếu Tòa án áp dụng Luật Thương mại 2005, mức phạt vi phạm sẽ không vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm theo quy định tại Điều 301, nếu áp dụng Bộ luật Dân sự 2015, các bên có thể tự do thỏa thuận mà không bị giới hạn bởi mức trần. 

Bản án số 30/2022/KDTM-PT ngày 08/9/2022 của TAND TP. Đà Nẵng  

Tòa án xác định giới hạn 12% chỉ áp dụng cho công trình có vốn nhà nước; còn hợp đồng thi công giữa hai doanh nghiệp tư nhân được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự, nên các bên được quyền thỏa thuận mức phạt cao hơn:

“Mức phạt tối đa 12% chỉ áp dụng cho công trình xây dựng sử dụng vốn nhà nước… Đối với công trình không sử dụng vốn nhà nước, pháp luật xây dựng không quy định mức phạt tối đa mà thực hiện theo thỏa thuận của các bên […] Theo quy định tại khoản 2 Điều 418 Bộ luật Dân sự thì “Mức phạt vi phạm do các bên thoả thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác”[…]. Do đó, cần chấp nhận mức phạt 0,5% giá hợp đồng cho 01 ngày chậm theo thỏa thuận.”.

Bản án số 660/2022/KDTM-PT ngày 10/11/2022 của TAND TP. Hồ Chí Minh  

Tòa phúc thẩm xác định quan hệ giữa các bên là hợp đồng thương mại, do đó áp dụng Điều 301 Luật Thương mại 2005 để giới hạn mức phạt vi phạm tối đa 8% giá trị phần nghĩa vụ bị vi phạm. Tòa án nhận định như sau: 

"Xét, như phân tích tại các mục [5.1], [5.2] và [5.4], có cơ sở xác định, nguyên đơn đã vi phạm hợp đồng là chậm hoàn thành toàn bộ công trình [...], nên phải chịu phạt vi phạm theo thỏa thuận của các bên và quy định của pháp luật, [....] và tổng tiền phạt không quá 8% giá trị hợp đồng, được tính như sau: 37 ngày x 0,2% x 176.463.016.000 đồng = 13.058.263.184 đồng. Tổng số tiền phạt 13.058.263.184 đồng là không vượt quá 8% giá trị hợp đồng là 14.117.041.280 đồng nên được chấp nhận."

(c) Lãi suất chậm thanh toán 

Một trong các chế tài quan trọng và được các bên áp dụng phổ biến khi xảy ra tranh chấp về việc chậm thanh toán là yêu cầu thanh toán tiền lãi, khi đó, lãi suất là yếu tố quan trọng cần được xác định.

Nghị định 37/2015/NĐ-CP quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng có hướng dẫn về việc xác định lãi suất. Theo đó, lãi suất chậm thanh toán được xác định theo lãi suất quá hạn do ngân hàng thương mại nơi bên nhận thầu mở tài khoản thanh toán công bố tương ứng với các thời kỳ chậm thanh toán [1]. Tuy nhiên, quy định về lãi suất này chỉ áp dụng đối với một số đối tượng nhất định được quy định tại khoản 2 Điều 1 (như dự án đầu tư xây dựng của cơ quan nhà nước, sử dụng vốn nhà nước,…) không bao gồm các dự án của tư nhân.

Trong khi Luật Xây dựng không có quy định cụ thể, Luật Thương mại và Bộ luật Dân sự lại có quy định khác nhau về vấn đề này. Theo quy định của Luật Thương mại, mức lãi này sẽ được áp dụng dựa trên “mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả”[2]. Trong khi đó, Bộ luật Dân sự quy định mức lãi sẽ do các bên thỏa thuận, tuy nhiên, không được vượt quá 20%/năm. Nếu các bên không thỏa thuận, mức lãi suất 10%/năm sẽ được áp dụng [3]. Thực tiễn xét xử cho thấy các Tòa án áp dụng căn cứ pháp luật khác nhau, dẫn đến chênh lệch đáng kể về mức lãi áp dụng.

[1] Khoản 2 Điều 43 Nghị định 37/2015/NĐ-CP

[2] Điều 306 Luật Thương mại 2005

[3] Điều 357 và 468 Bộ luật Dân sự 2015

Bản án số 10/2020/KDTM-PT ngày 10/06/2020 của TAND TP. Đà Nẵng 

Hội đồng xét xử viện dẫn Điều 306 Luật Thương mại cùng Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, tính lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình của ba ngân hàng thương mại lớn, khoảng 18,675%/năm, nhưng chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ở mức 12%/năm vì có lợi cho bị đơn. Tòa nêu rõ:

“Theo quy định tại Điều 306 Luật Thương mại và Điều 11, 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP […] Công ty A phải chịu mức lãi suất theo lãi suất nợ quá hạn trung bình của ba Ngân hàng […] là 18,675%/năm. Tuy nhiên, Công ty L chỉ yêu cầu mức lãi suất 12%/năm […] nên được chấp nhận.”

Bản án số 08/2025/KDTM-PT ngày 09/01/2025 của TAND TP. Hà Nội 

TAND TP. Hà Nội áp dụng Nghị định 37/2015/NĐ-CP và cơ chế lãi suất của ngân hàng nơi bên nhận thầu mở tài khoản. Tòa xác định đây là tranh chấp hợp đồng xây dựng không có thỏa thuận lãi, nên chấp nhận mức 10%/năm do nguyên đơn yêu cầu, căn cứ theo lãi suất thực tế của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam:

“Đây là tranh chấp hợp đồng xây dựng nên căn cứ Nghị định 37/2015/NĐ-CP[…], nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi theo mức lãi suất của Ngân hàng nơi nguyên đơn mở tài khoản […] nguyên đơn chỉ yêu cầu mức lãi 10%/năm là có căn cứ, có lợi cho bị đơn nên được chấp nhận.”

3. Dự thảo Án lệ 06/2024   

Trong bối cảnh việc áp dụng pháp luật chưa thống nhất, dự thảo Án lệ 06/2024 được đề xuất để cung cấp giải pháp pháp lý cho các vụ việc tương tự.

Nguồn án lệ được đề xuất: Quyết định giám đốc thẩm số 12/2019/DS-GĐT ngày 24/9/2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp bồi thường thiệt hại hợp đồng khoan phá đá” giữa nguyên đơn là Công ty cổ phần xây dựng thương mại và dịch vụ Q với bị đơn là Tổng Công ty công nghiệp hóa chất mỏ V.

Trong vụ án này, tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm đã áp dụng Luật Thương mại 2005 khi giải quyết vụ án, nhưng Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhận định việc Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Luật Thương mại để giải quyết tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng xây dựng là không đúng. Quan hệ tranh chấp liên quan đến lĩnh vực xây dựng, nên cần áp dụng pháp luật xây dựng. Trường hợp pháp luật xây dựng không quy định thì áp dụng Bộ luật Dân sự để giải quyết. Trên cơ sở này, dự thảo Án lệ 06/2024 đề xuất giải pháp pháp lý: “Trường hợp này, Tòa án phải áp dụng quy định của pháp luật xây dựng để giải quyết; trường hợp pháp luật xây dựng không có quy định thì áp dụng quy định Bộ luật Dân sự để giải quyết”.

Hiện nay, vấn đề lựa chọn giữa Luật Xây dựng, Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại hiện vẫn đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau trong thực tiễn xét xử. Vì vậy, nếu được thông qua, Án lệ này sẽ trở thành một căn cứ tham khảo quan trọng để Tòa án xem xét khi xác định pháp luật điều chỉnh cho tranh chấp phát sinh từ hợp đồng xây dựng. Việc ban hành hay không ban hành Án lệ vẫn đang là nội dung được thảo luận, phản ánh nhu cầu cấp thiết trong việc thiết lập sự thống nhất. Đồng thời cũng cho thấy sự khác biệt quan điểm trong cách tiếp cận của giới chuyên môn và các cơ quan tiến hành tố tụng.

4. Khuyến nghị cho doanh nghiệp  

Trong bối cảnh Dự thảo Án lệ số 06/2024 chưa được ban hành chính thức và thực tiễn xét xử còn chưa thống nhất giữa các tòa án, doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý khi soạn thảo và thực hiện hợp đồng xây dựng. Đặc biệt là các điều khoản về mức phạt, lãi chậm thanh toán.... Khi có tranh chấp phát sinh, cần đặc biệt lưu ý thời hiệu khởi kiện. Trong trường hợp cần thiết, nên tham vấn ý kiến luật sư để tìm kiếm các căn cứ, giải pháp pháp lý phù hợp nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi của doanh nghiệp trong quá trình giải quyết tranh chấp. 

Tác giả:

Dương Thị Cẩm Chơn: Luật sư Cộng Sự Cao Cấp, Dentons Luật Việt
Trần Mỹ Anh: Trợ lý Luật sư, Dentons Luật Việt

Great! You’ve successfully signed up.

Welcome back! You've successfully signed in.

You've successfully subscribed to Tập San Luật sư Nội bộ.

Success! Check your email for magic link to sign-in.

Success! Your billing info has been updated.

Your billing was not updated.