Tăng tính bảo mật đối với hoạt động thẻ ngân hàng theo Thông tư 45/2025/TT-NHNN
Trong bối cảnh thanh toán không dùng tiền mặt càng trở nên phổ biến, tội phạm công nghệ cao liên
1.Việc chứng thực chữ ký trên Đơn khởi kiện
Theo Điều 189.2(a), Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (sau đây gọi tắt là: “BLTTDS 2015”), người làm đơn phải ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn khởi kiện. BLTTDS 2015 không yêu cầu việc chứng thực chữ ký trên Đơn khởi kiện (hay thậm chí là Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Đơn kháng cáo, Đơn khiếu nại hoặc Đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm). Tuy nhiên, trên thực tế, có nhiều trường hợp Đơn khởi kiện được lập với hình thức chứng thực chữ ký. Việc chứng thực chữ ký được thực hiện có thể là do thói quen khi làm việc với các cơ quan nhà nước, hoặc sự cẩn trọng của người làm đơn hoặc yêu cầu cụ thể từ một số Thẩm phán ....
Thông thường việc chứng thực chữ ký nhằm bảo đảm căn cứ xác định danh tính người lập văn bản, chứng minh người yêu cầu chứng thực đã ký văn bản đó và chịu trách nhiệm về nội dung. Mặc dù BLTTDS 2015 không yêu cầu cụ thể, đương sự bị buộc phải nộp đơn khởi kiện với hình thức chứng thực chữ ký thì:
- Yêu cầu chứng thực chữ ký cũng phải được tiến hành đối với toàn bộ văn bản khác trong quá trình tố tụng nếu họ không trực tiếp ký tại Tòa án (ví dụ: bản ý kiến, đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, đơn kháng cáo, đơn khiếu nại,…).
- Nếu vậy, điều này dẫn đến sự tốn kém về thời gian, chi phí và gây phiền hà cho người tham gia tố tụng, đặc biệt trong bối cảnh nhiều vụ việc có tính chất khẩn cấp hoặc đương sự không có điều kiện thuận lợi hoặc hạn chế về sức khỏe, địa lý để trực tiếp có mặt tại cơ quan chứng thực.
- Trong khi đó, BLTTDS 2015 vốn hướng đến việc bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng. Việc đặt ra yêu cầu chứng thực chữ ký một cách cứng nhắc có thể trở thành rào cản đối với quyền khởi kiện và quyền thực hiện các thủ tục tố tụng của đương sự, việc giải quyết vụ việc sẽ bị kéo dài.
2. Yêu cầu về hình thức của Đơn khởi kiện đối với đương sự là người nước ngoài đang cư trú hoặc làm việc tại Việt Nam.
Những vụ án mà người khởi kiện là người nước ngoài đang cư trú hoặc làm việc tại Việt Nam thường thấy tại các vụ án lao động, dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, đòi tài sản hoặc hôn nhân và gia đình. Việc chuẩn bị đơn khởi kiện trong những tình huống này cũng có những lúng túng trên thực tế đối với bản thân người khởi kiện và Tòa án.
Tuy nhiên, BLTTDS 2015 không có quy định riêng về điều kiện công nhận giấy tờ, tài liệu do cá nhân nước ngoài lập ở Việt Nam. Trên thực tế, yêu cầu của Tòa án đối với hình thức Đơn khởi kiện cũng không thống nhất. Một số hình thức đơn khởi kiện thường gặp như:
- Đơn khởi kiện được lập chỉ bằng tiếng Việt;
- Đơn khởi kiện được lập bằng hình thức song ngữ, bao gồm tiếng Việt;
- Đơn khởi kiện được lập bằng tiếng Việt kèm theo chứng thực chữ ký và lời xác nhận của phiên dịch viên;
- Đơn khởi kiện được lập bằng tiếng nước ngoài, và được dịch công chứng sang tiếng Việt;
Các nguyên tắc được nêu trong BLTTDS 2015 gồm: “tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng dân sự là tiếng Việt[1]” và “quyền tự quyết, tự định đoạt của đương sự”[2], “Tòa án có trách nhiệm bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền bảo vệ của họ”[3]. Để thực hiện các nguyên tắc này, Tòa án cần đảm bảo người khởi kiện hiểu rõ nội dung Đơn khởi kiện, đặc biệt khi đương sự là người nước ngoài. Trong khi đó, việc thiếu quy định cụ thể một cách thống nhất dẫn đến sự tùy nghi trong áp dụng, gây khó khăn cho đương sự và làm giảm tính minh bạch của thủ tục tố tụng. Nếu giả định rằng, Tòa án “quan ngại” về việc hiểu và nhận thức rõ nội dung đơn khởi kiện của người khởi kiện là người nước ngoài thì việc này cũng sẽ dẫn đến nguy cơ Đơn khởi kiện của các công ty có người đại diện theo pháp luật là người nước ngoài bị đối xử tương tự.
3. Giấy ủy quyền
BLTTDS 2015 quy định chung rằng người đại diện theo ủy quyền theo quy định của BLDS là người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự[4] và không có quy định cụ thể về hình thức của giấy ủy quyền nộp kèm theo Đơn khởi kiện. BLTTDS 2015 chỉ có một quy định riêng về hình thức ủy quyền để ký lập Đơn kháng cáo, cụ thể là việc ủy quyền “phải được làm thành văn bản có công chứng, chứng thực hợp pháp, trừ trường hợp văn bản ủy quyền đó được lập tại Tòa án có sự chứng kiến của Thẩm phán hoặc người được Chánh án Tòa án phân công”[5].
Về phía BLDS 2015, không có yêu cầu bắt buộc nào về hình thức ủy quyền của cá nhân. Trên thực tế, Giấy ủy quyền của người khởi kiện là một công ty hay pháp nhân cụ thể trong nước thường được chấp nhận hình thức văn bản, được ký và đóng dấu. Đối với người khởi kiện là cá nhân, việc ủy quyền sẽ được người khởi kiện lập giấy ủy quyền, có chứng thực chữ ký. Đa số các Tòa án đều chấp nhận hình thức này. Hơn nữa, cách thức này cũng đảm bảo quy định tương tự tại khoản 6 Điều 272 BLTTDS 2015 và thuận tiện cho người khởi kiện.
Tuy nhiên, hiện nay có trường hợp Tòa án (và cả cơ quan thi hành án) từ chối hiệu lực việc ủy quyền theo hình thức này. Cụ thể theo Điều 14 Thông tư 01/2020/TT-BTP ngày 03/3/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn Nghị định 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch quy định: việc chứng thực trên giấy ủy quyền được thực hiện trong 04 trường hợp[6], nhưng không thể hiện rõ trường hợp liên quan đến đại diện tham gia tố tụng hoặc thi hành án. Bộ Tư pháp cũng nhận định rằng[7]: “Nghị định số 23/2015/NĐ-CP còn chung chung, chưa có hướng dẫn cụ thể nên thực tế đã phát sinh tình trạng một số người dân ở các địa phương lợi dụng quy định này để nhận ủy quyền đi khiếu nại, kiện tụng, tham gia tố tụng ...”
4. Kết luận
Dưới góc độ người khởi kiện, họ sẽ luôn thuận theo các yêu cầu và hướng dẫn từ Tòa án nhằm nhanh chóng được Thụ lý vụ án. Tuy nhiên, dưới góc độ bị đơn, mọi vấn đề trong yêu cầu khởi kiện đều được kiểm tra thậm chí theo kiểu “bới lông tìm vết”. Do đó, những nội dung chưa rõ ràng về hình thức đơn khởi kiện cũng như giấy ủy quyền sẽ dẫn đến những tranh cãi tại Tòa án.
Do vậy, thực sự rất cần một hướng dẫn để làm rõ những vấn đề trên, tạo sự thống nhất áp dụng pháp luật trong thực tiễn xét xử trên thực tiễn cũng như tiết kiệm thời gian và chi phí của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án.
[1] Điều 20 BLTTDS 2015.
[2] Điều 5 BLTTDS 2015.
[3] Khoản 3 Điều 8 BLTTDS 2015.
[4] Khoản 4 Điều 85 BLTTDS 2015.
[5] Khoản 6 Điều 272 BLTTDS 2015.
[6] Bao gồm: Ủy quyền nộp hộ, nhận hộ hồ sơ, giấy tờ; Ủy quyền nhận hộ lương hưu, bưu phẩm, trợ cấp, phụ cấp; Ủy quyền nhờ trông nom nhà cửa; Ủy quyền của thành viên hộ gia đình để vay vốn tại Ngân hàng chính sách xã hội
[7] https://baochinhphu.vn/quy-dinh-moi-khong-lam-han-che-viec-uy-quyen-102272875.htm; và Công văn 1975/BTP-HTQTCT ngày 01/06/2020 của Bộ Tư pháp
Tác giả:
Nguyễn Đăng Ngọc: Luật sư Cộng sự, Dentons Luật Việt
Vũ Minh Trang: Luật sư Cộng sự, Dentons Luật Việt