Xây dựng Bộ phận Pháp chế có khả năng Thích ứng, Đổi mới và Sẵn sàng cho Các thách thức tương lai
Tiếp nối thành công của tuần đầu tiên, chuỗi Chương trình Trải nghiệm Khách hàng Dentons bước sang tuần thứ
Luật Thuế Giá Trị Gia Tăng (“GTGT”) 2024, Nghị định 181/2025/ND-CP (“Nghị định 181”) của Chính phủ và Thông tư 69/2025/TT-BTC (“Thông tư 69”) của Bộ tài Chính hướng dẫn thi hành Luật thuế GTGT có hiệu lực từ ngày 01/07/2025. Những thay đổi đáng chú ý liên quan đến người nộp thuế, quy định về hoàn thuế, khấu trừ thuế GTGT và thuế GTGT đối với nhà thầu nước ngoài được cập nhật dưới đây:
1.Mở rộng người nộp thuế bao gồm các tổ chức sau đây:
(i) Nhà cung cấp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, kinh doanh dựa trên nền tảng số với tổ chức, cá nhân tại Việt Nam (“nhà cung cấp nước ngoài”).
(ii) Tổ chức là nhà quản lý nền tảng số nước ngoài thực hiện khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp của Nhà cung cấp nước ngoài.
(iii) Tổ chức là nhà quản lý sàn giao dịch thương mại điện tử, nhà quản lý nền tảng số có chức năng thanh toán thực hiện khấu trừ, nộp thuế thay, kê khai số thuế đã khấu trừ cho hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh trên sàn thương mại điện tử, nền tảng số.
2.Thay đổi liên quan tới đối tượng không chịu Thuế GTGT
(i) Nâng mức doanh thu hàng năm không chịu Thuế GTGT của hộ, cá nhân kinh doanh từ 100 triệu đồng lên 200 triệu đồng áp dụng từ ngày 01/01/2026.
(ii) Một số hàng hóa, dịch vụ không còn thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT, bao gồm dịch vụ lưu ký chứng khoán và dịch vụ Internet phổ cập.
(iii) Dịch vụ cấp tín dụng thuộc đối tượng không chịu thuế không quy định cụ thể như trước đây. Chẳng hạn, việc bán tài sản bảo đảm cho khoản vay do tổ chức tín dụng, cơ quan thi hành án, hoặc bên vay tự thực hiện không còn được quy định rõ là thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT như trước.
(iv) Phạm vi dịch vụ vận chuyển hành khách công cộng thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT được mở rộng, bao gồm cả phương tiện thủy nội địa, bên cạnh xe buýt và xe điện như trước đây.
(v) Liên quan đến danh mục máy móc, thiết bị, phụ tùng và vật tư thuộc loại trong nước đã sản xuất được (làm căn cứ để phân biệt với loại trong nước chưa sản xuất được nhằm xác định đối tượng không chịu thuế GTGT khi nhập khẩu), người nộp thuế được yêu cầu căn cứ vào danh mục do Bộ Tài chính ban hành. Tuy nhiên, hiện nay danh mục này đang do Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành, nên trong thời gian Bộ Tài chính chưa ban hành danh mục mới, chưa rõ các doanh nghiệp có nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị thuộc diện này sẽ căn cứ theo danh mục nào để xác định thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.
(vi) dBãi bỏ quy định sản phẩm xuất khẩu là hàng hóa được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản có tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên thuộc đối tượng không chịu thuế. Thay vào đó, Nghị định 181 quy định danh mục sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác và sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác đã chế biến thành sản phẩm khác thuộc đối tượng không chịu thuế.
3.Điều chỉnh thuế suất thuế GTGT đối với nhà thầu nước ngoài
Thông tư 69 điều chỉnh mức thuế suất GTGT theo phương pháp trực tiếp áp dụng đối với nhà thầu nước ngoài. Theo đó, hoạt động bán buôn, bán lẻ các loại hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế GTGT với mức thuế suất 1% trên doanh thu. Hoạt động này theo Thông tư 103/2014/TT-BTC hướng dẫn thuế nhà thầu nước ngoài, thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.
Ngoài ra, Thông tư 69 liệt kê chi tiết từng loại dịch vụ, hàng hóa và mức thuế suất GTGT tương ứng.
4.Thay đổi thời điểm xác định thuế GTGT đối với hàng hóa
Luật Thuế GTGT mới quy định thời điểm xác định thuế GTGT đối với hàng hóa là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa cho người mua, hoặc thời điểm lập hóa đơn, tùy theo thời điểm nào đến trước. So với quy định trước đây, thời điểm xác định thuế GTGT đối với hoạt động bán hàng hóa chỉ được xác định tại thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng hàng hóa cho người mua.
5.Thay đổi liên quan đến thuế suất
(i) Thuế suất 0%:
Luật thuế GTGT và văn bản hướng dẫn quy định cụ thể điều kiện áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% đối với nhiều trường hợp bao gồm điều kiện chung là tiêu dùng ngoài Việt Nam. Chẳng hạn đối với cung cấp dịch vụ cho cá nhân nước ngoài, cá nhân ở nước ngoài phải đáp ứng điều kiện ở ngoài Việt Nam trong thời gian diễn ra việc cung cấp dịch vụ.
Dịch vụ cung cấp trực tiếp cho tổ chức ở trong khu phi thuế quan và được tiêu dùng trong khu phi thuế quan phải phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất xuất khẩu.
Đối với sản phẩm nội dung thông tin số cung cấp cho bên nước ngoài, cơ sở kinh doanh cung cấp sản phẩm nội dung thông tin số phải có hồ sơ, tài liệu chứng minh tiêu dùng ở ngoài Việt Nam, như thông tin về tình trạng cư trú của bên nước ngoài (tổ chức, cá nhân).
(ii) Thuế suất 5% và 10%
Một số hàng hóa và dịch vụ trước đây thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT nay chuyển sang chịu thuế GTGT với mức 5% hoặc 10%. Đồng thời, một số hàng hóa, dịch vụ trước đây chịu thuế suất 5% nay được điều chỉnh tăng lên 10%.
Chẳng hạn, dịch vụ do tổ chức nước ngoài cung cấp thông qua thương mại điện tử, nền tảng số, cũng như hoạt động sản xuất và phát hành phim, hiện chịu thuế suất 10%, thay vì 5% như trước đây.
6.Điều chỉnh nguyên tắc và điều kiện khấu trừ Thuế GTGT đầu vào
Theo quy định mới, ngưỡng giá trị thanh toán không dùng tiền mặt để được khấu trừ thuế GTGT đã giảm từ 20 triệu đồng xuống còn 5 triệu đồng.
Luật thuế GTGT 2024 và văn bản hướng dẫn cũng quy định chi tiết hơn so với trước đây điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với nhiều trường hợp như thanh toán bằng bù trừ công nợ, vay, mượn hàng hóa hoặc tiền, ủy quyền cho người lao động thanh toán, thanh toán bằng cổ phiếu, trái phiếu, thanh toán để thực hiện biện pháp cưỡng chế của nhà nước, các trường hợp trả góp, trả chậm và hàng hóa xuất khẩu qua sàn thương mại điện tử nước ngoài.
7.Hoàn thuế
Theo Nghị định 181, một trong các điều kiện để được hoàn thuế GTGT là người bán đã kê khai và nộp thuế GTGT đối với hóa đơn đã xuất cho cơ sở kinh doanh đề nghị hoàn thuế. Trường hợp người bán chưa nộp đầy đủ hồ sơ khai thuế GTGT hoặc còn nợ tiền thuế GTGT của kỳ tính thuế tương ứng, thì cơ sở kinh doanh sẽ không được hoàn thuế đối với các hóa đơn liên quan.
Quy định này có thể gây khó khăn đáng kể cho doanh nghiệp xin hoàn thuế, do bên mua không có khả năng kiểm soát việc kê khai và nộp thuế của bên bán. Hơn nữa, việc chậm kê khai hoặc nộp thuế của bên bán là vấn đề thuộc phạm vi quản lý và xử lý của cơ quan thuế, không nên là căn cứ để từ chối hoàn thuế cho bên mua.
Hoàn thuế đối với dự án đầu tư:
Dự án đầu tư mở rộng được hoàn thuế GTGT nếu đáp ứng điều kiện. Trường hợp dự án đầu tư đã hoàn thành nhưng chưa thực hiện hoàn Thuế GTGT phát sinh trong giai đoạn đầu tư thì cơ sở kinh doanh thực hiện nộp hồ sơ hoàn Thuế GTGT theo quy định trong thời hạn 01 năm kể từ ngày dự án đầu tư hoặc ngày giai đoạn đầu tư, hạng mục đầu tư hoàn thành.
Trường hợp dự án đầu tư phải chấm dứt hoạt động chưa phát sinh thuế GTGT đầu ra thì cơ sở kinh doanh phải nộp lại số Thuế GTGT đã được hoàn.
Đối với cơ sở kinh doanh chỉ sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ chịu thuế suất Thuế GTGT 5%:
Luật thuế GTGT và văn bản hướng dẫn mở rộng đối tượng được hoàn thuế bao gồm cơ sở kinh doanh chỉ sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ chịu thuế suất GTGT 5%, nếu có số thuế GTGT đầu vào chưa được khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên sau 12 tháng liên tục hoặc 4 quý liên tục, thì được hoàn thuế GTGT. Trước đây chỉ doanh nghiệp có hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu mới được hoàn thuế GTGT đầu vào chưa khấu trừ hết từ 300 triệu đồng trở lên trong kỳ.
Tác giả:
Phan Thị Liễu: Luật sư Thành viên Cao cấp, Dentons Luật Việt
Đoàn Hà Yến Nhi: Trợ lý Luật sư, Dentons Luật Việt