Thủ tục đầu tư ra nước ngoài có gì mới?

Thủ tục đầu tư ra nước ngoài có gì mới?

Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/03/2026 (“Luật Đầu tư 2025”) và thay thế Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 (“Luật Đầu tư 2020”), đã tiếp tục kế thừa và phát triển các quy định về hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Đáng chú ý, lần đầu tiên Chính phủ ban hành một nghị định riêng để hướng dẫn chi tiết lĩnh vực này. Theo đó, Nghị định số 103/2026/NĐ-CP quy định về đầu tư ra nước ngoài có hiệu lực từ ngày 03/04/2026 (“Nghị định 103/2026/NĐ-CP”), thay thế cho Chương VI Nghị định số 31/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư (“Nghị định 31/2021/NĐ-CP”), đã cụ thể hóa các quy định của Luật Đầu tư 2025 và hệ thống hóa khung pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

1. Bãi bỏ thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài

Luật Đầu tư 2025 đánh dấu bước đột phá khi bãi bỏ các thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài thuộc thẩm quyền của Quốc hội và Thủ tướng Chính phủ vốn được quy định tại Luật Đầu tư 2020.[1] Theo đó, Luật Đầu tư 2025 cho phép nhà đầu tư thực hiện ngay bước đăng ký xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài (“GCNĐKĐTRNN”) tại Bộ Tài chính.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là nhà nước nới lỏng sự kiểm soát đối với các dự án quy mô lớn. Đối với các dự án có quy mô vốn từ 1.600 tỷ đồng trở lên hoặc dự án đề xuất áp dụng cơ chế chính sách hỗ trợ đặc biệt, Bộ Tài chính có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận trước khi chính thức cấp hoặc điều chỉnh GCNĐKĐTRNN.[2] Sự thay đổi này góp phần giúp tinh giản bộ máy và tăng tốc độ giải quyết thủ tục hành chính.

So với các quy định cũ, các dự án đầu tư ra nước ngoài có vốn từ 20.000 tỷ đồng trở lên hoặc dự án cần áp dụng cơ chế đặc biệt phải trải qua một quy trình xét duyệt vô cùng phức tạp tại Quốc hội.[3] Đối với các dự án nhỏ hơn có quy mô vốn trên 800 tỷ đồng (trừ dự án thuộc lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, báo chí, phát thanh, truyền hình, viễn thông có vốn đầu tư ra nước ngoài từ 400 tỷ đồng trở lên), thì Thủ tướng Chính phủ là người có thẩm quyền chấp thuận chủ trương trước khi nhà đầu tư được nộp hồ sơ xin cấp GCNĐKĐTRNN.[4]

2. Thiết lập ngưỡng vốn đầu tư để quản lý dự án đầu tư ra nước ngoài

Nghị định 103/2026/NĐ-CP tạo bước ngoặt trong cải cách hành chính khi chính thức thiết lập ngưỡng vốn 07 tỷ đồng để phân loại thủ tục quản lý các dự án đầu tư ra nước ngoài, thay vì yêu cầu tất cả các dự án phải xin GCNĐKĐTRNN như trước đây. Theo đó, nhà đầu tư thực hiện thủ tục đăng ký giao dịch ngoại hối theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối mà không phải thực hiện thủ tục cấp GCNĐKĐTRNN.

Cụ thể, theo quy định mới, thủ tục xin cấp GCNĐKĐTRNN chỉ áp dụng đối với các dự án có vốn đầu tư từ 07 tỷ đồng trở lên hoặc dự án thuộc ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện, bao gồm: ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, báo chí, phát thanh, truyền hình và kinh doanh bất động sản.[5].

Đối với dự án có vốn dưới 07 tỷ đồng và không thuộc ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện, cũng như dự án gắn với quốc phòng, an ninh triển khai theo thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ các nước và dự án của tập đoàn, tổng công ty nhà nước, nhà đầu tư không bắt buộc phải xin cấp GCNĐKĐTRNN. Trường hợp các dự án này được điều chỉnh tăng vốn dẫn đến thuộc diện phải cấp GCNĐKĐTRNN, nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục xin cấp GCNĐKĐTRNN. Mặc dù được miễn thủ tục cấp GCNĐKĐTRNN, nhà đầu tư vẫn có nghĩa vụ kê khai thông tin dự án trên Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư để được cấp mã số hồ sơ tự động, làm cơ sở thực hiện thủ tục đăng ký giao dịch ngoại hối theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.[6]

Quy định mới này góp phần cắt giảm đáng kể chi phí tuân thủ cho các doanh nghiệp quy mô nhỏ, đồng thời giúp các cơ quan có thẩm quyền tập trung nguồn lực giám sát các dự án đầu tư ra nước ngoài có quy mô lớn và mức độ rủi ro cao hơn.

3. Thay đổi đối với điều kiện đầu tư ra nước ngoài

Nghị định 103/2026/NĐ-CP tiếp tục kế thừa các điều kiện đầu tư ra nước ngoài[7] tương tự quy định trước đây tại Luật Đầu tư 2020, bao gồm: hoạt động đầu tư ra nước ngoài phải (i) phù hợp với nguyên tắc của pháp luật đầu tư; (ii) không thuộc ngành, nghề cấm đầu tư ra nước ngoài và đáp ứng điều kiện đối với ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện (nếu có); (iii) có quyết định đầu tư ra nước ngoài; và (iv) có văn bản xác nhận hoàn thành nghĩa vụ thuế của nhà đầu tư, được cấp không quá 03 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ.

Một điểm mới đáng chú ý là Nghị định 103/2026/NĐ-CP đã bãi bỏ điều kiện yêu cầu nộp “văn bản cam kết tự thu xếp ngoại tệ” hoặc “cam kết thu xếp ngoại tệ của tổ chức tín dụng” đối với các dự án không thuộc diện báo cáo Thủ tướng Chính phủ chấp thuận.[8] Tuy nhiên, với dự án thuộc diện báo cáo Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, nhà đầu tư vẫn phải có cam kết thu xếp ngoại tệ của tổ chức tín dụng được phép hoặc cam kết tự cân đối nguồn ngoại tệ.

Bên cạnh đó, Nghị định 103/2026/NĐ-CP đã siết chặt điều kiện đối với tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ trên 50% vốn điều lệ khi thực hiện đầu tư ra nước ngoài từ Việt Nam sang quốc gia thứ ba.[9] Cụ thể, các tổ chức này phải đáp ứng thêm các yêu cầu sau:

(i)     Chỉ được sử dụng vốn chủ sở hữu, không được sử dụng phần vốn góp đã đầu tư vào dự án tại Việt Nam để chuyển ra nước ngoài.

(ii)    Có kết quả kinh doanh có lãi trong 02 năm liên tiếp liền kề trước năm đăng ký, được chứng minh bằng báo cáo tài chính đã được kiểm toán; và

(iii)   Trường hợp sử dụng vốn góp tăng thêm, phải được cấp GCNĐKĐTRNN trước, sau đó hoàn tất thủ tục tăng vốn và góp đủ vốn điều lệ tại Việt Nam trước khi chuyển vốn ra nước ngoài.

4. Mở rộng danh mục ngành, nghề cấm đầu tư ra nước ngoài

Luật Đầu tư 2025 tiếp tục duy trì các ngành, nghề cấm đầu tư ra nước ngoài đã được quy định tại Luật Đầu tư 2020, bao gồm: kinh doanh chất ma túy; hóa chất, khoáng vật; mẫu vật động, thực vật hoang dã và các loài nguy cấp, quý, hiếm có nguồn gốc khai thác từ tự nhiên; kinh doanh mại dâm; mua, bán người, mô, xác, bộ phận cơ thể người và bào thai người; hoạt động kinh doanh liên quan đến sinh sản vô tính trên người; kinh doanh pháo nổ; và kinh doanh dịch vụ đòi nợ.

Đáng chú ý, Luật Đầu tư 2025 đã bổ sung ngành, nghề cấm đầu tư ra nước ngoài như sau:[10]

(i)     Kinh doanh mua bán bảo vật quốc gia;

(ii)    Kinh doanh xuất khẩu di vật, cổ vật; và

(iii)   Kinh doanh thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.

5. Điều chỉnh cơ chế chuyển lợi nhuận và siết chặt kỷ luật báo cáo

Đối với việc chuyển lợi nhuận về Việt Nam, Nghị định 103/2026/NĐ-CP đã nới lỏng quy định, theo đó yêu cầu nhà đầu tư chuyển toàn bộ lợi nhuận và các khoản thu nhập khác từ hoạt động đầu tư ở nước ngoài về Việt Nam trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được chia lợi nhuận.[11] Quy định này đã kéo dài thời hạn và thay đổi mốc thời gian tính nghĩa vụ chuyển lợi nhuận, so với quy định trước đây yêu cầu chuyển lợi nhuận trong vòng 06 tháng kể từ ngày có báo cáo quyết toán thuế hoặc văn bản tương đương theo pháp luật nước tiếp nhận đầu tư.[12] Sự thay đổi này đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp có đủ thời gian để sắp xếp nguồn tiền, thực hiện các nghĩa vụ tài chính tại nước sở tại và tối ưu hóa việc sử dụng lợi nhuận tái đầu tư trước khi chuyển về Việt Nam.

Bên cạnh đó, chế độ báo cáo cũng được điều chỉnh theo hướng tinh giản. Theo Luật Đầu tư 2025, nhà đầu tư thực hiện báo cáo định kỳ 06 tháng và hằng năm[13] về tình hình hoạt động của dự án đầu tư ra nước ngoài, thay cho chế độ báo cáo theo quý và hằng năm như trước đây.[14]

Đáng chú ý, ngoài các biện pháp xử lý tương tự quy định tại Nghị định 31/2021/NĐ-CP, Nghị định 103/2026/NĐ-CP đã bổ sung biện pháp xử lý mới đối với trường hợp không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ báo cáo. Theo đó, cơ quan xem xét hồ sơ có quyền yêu cầu nhà đầu tư thực hiện chế độ báo cáo khi xem xét, cấp mới, điều chỉnh GCNĐKĐTRNN đối với nhà đầu tư không thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo. Thời hạn nhà đầu tư thực hiện chế độ báo cáo không được tính vào thời hạn xem xét hồ sơ theo quy định.[15] Như vậy, có thể thấy, do các thủ tục tiền kiểm đã được đơn giản hóa, Nhà nước đã siết chặt kỷ luật thực thi thông qua chế độ báo cáo và các biện pháp xử lý nghiêm khắc hơn trong giai đoạn hậu kiểm.


[1] Luật Đầu tư 2020, Chương V – Mục 2

[2] Nghị định 103/2026/NĐ-CP, Điều 17.2

[3] Luật Đầu tư 2020, Điều 57

[4] Luật Đầu tư 2020, Điều 58

[5] Luật Đầu tư 2025, Điều 42.2; Nghị định 103/2026/NĐ-CP, Điều 17

[6] Luật Đầu tư 2025, Điều 42.3; Nghị định 103/2026/NĐ-CP, Điều 18

[7] Nghị định 103/2026/NĐ-CP, Điều 15.1 – 15.4

[8] Nghị định 103/2026/NĐ-CP, Điều 15 và Điều 22.1

[9] Nghị định 103/2026/NĐ-CP, Điều 15.5

[10] Luật Đầu tư 2025, Điều 40 và Điều 6

[11] Nghị định 103/2026/NĐ-CP, Điều 34.1

[12] Luật Đầu tư 2020, Điều 68.1

[13] Luật Đầu tư 2025, Điều 48.3(b)

[14] Luật Đầu tư 2020, Điều 73.3(b)

[15] Nghị định 103/2026/NĐ-CP, Điều 35.5(d)

Tác giả:
Nguyễn Đức Anh: Luật sư Cộng sự Cao cấp, Dentons Luật Việt
Nguyễn Ngọc Huyền: Trợ lý Luật sư, Dentons Luật Việt

Miễn trừ trách nhiệm: Bài viết này chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin chung và không cấu thành ý kiến tư vấn pháp lý, hay thiết lập mối quan hệ luật sư và khách hàng. Quý độc giả không nên sử dụng nội dung bài viết như sự thay thế cho tư vấn pháp lý từ luật sư. Dentons Luật Việt không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ tổn thất hay thiệt hại nào phát sinh từ việc sử dụng hoặc dựa vào nội dung bài viết này. Vui lòng liên hệ: bd.vietnam@dentons.com để được tư vấn phù hợp.

Great! You’ve successfully signed up.

Welcome back! You've successfully signed in.

You've successfully subscribed to Tập San Luật sư Nội bộ.

Success! Check your email for magic link to sign-in.

Success! Your billing info has been updated.

Your billing was not updated.