Một số điểm bất hợp lý của Án lệ số 78/2025/AL về xác định mục đích góp vốn vào công ty

Một số điểm bất hợp lý của Án lệ số 78/2025/AL về xác định mục đích góp vốn vào công ty

1. Tổng quan về án lệ

Ngày 24/12/2025, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (“HĐTP TAND Tối cao”) thông qua Án lệ số 78/2025/AL về xác định mục đích góp vốn vào công ty (“Án Lệ 78”) đã thu hút một sự quan tâm lớn từ các chuyên gia pháp lý cũng như những người hành nghề luật. Nguồn án lệ là Quyết định giám đốc thẩm số 17/2022/KDTM-GĐT ngày 13/12/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án kinh doanh thương mại “Tranh chấp giữa thành viên công ty với công ty” (“QĐGĐT số 17/2022/KDTM-GĐT”). Trong phạm vi bài viết này, nhóm tác giả phân tích những điểm tồn đọng, hạn chế của giải pháp pháp lý mà án lệ mang đến và đề xuất hướng tiếp cận bổ sung.

1.1. Tóm lược nội dung vụ án được chọn làm án lệ

Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ (“Công ty Đ”) được thành lập năm 2001 bởi hai thành viên là ông T và ông V. Do nhu cầu mở rộng mặt bằng sản xuất, ông T và ông V đã đề nghị ông Trần Mạnh H (đang ở nước ngoài) góp vốn vào công ty. Do đó, cũng trong đầu năm 2001, các bên họp mặt và thống nhất kết nạp ông H làm thành viên Công ty Đ, mỗi người góp 1/3 phần vốn góp để cùng kinh doanh. Ông H đã chuyển tiền thành nhiều đợt cho ông T để đầu tư vào công ty.

Đến năm 2017, các bên ký Biên bản họp Hội đồng thành viên xác nhận ông H có góp vốn và thống nhất chia lợi nhuận, tài sản thanh lý theo tỷ lệ 1/3 (tương đương 33,33%) cho mỗi người. Tuy nhiên, từ đó đến nay, Công ty Đ và các thành viên còn lại không thực hiện thủ tục đăng ký ông H là thành viên tại cơ quan đăng ký kinh doanh dù ông đã nhiều lần yêu cầu. Do đó, ông H khởi kiện yêu cầu công nhận tư cách thành viên công ty.

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, xác nhận Nguyên đơn là thành viên Công ty Đ với tỷ lệ góp vốn là 1/3, và buộc Bị đơn phải thực hiện thủ tục tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để bổ sung tên Nguyên đơn là thành viên. Tòa án cấp phúc thẩm bác kháng cáo của Bị đơn và giữ nguyên các quyết định của Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm. Trong Quyết định giám đốc thẩm, HĐTP TAND Tối cao đã hủy Bản án phúc thẩm trước đó để xét xử sơ thẩm lại. Trong Quyết định giám đốc thẩm, HĐTP TAND Tối cao có nhận định ông H không có tư cách thành viên Công ty Đ dựa trên các lý do:

(i) Mặc dù Biên bản họp Hội đồng thành viên năm 2017 xác nhận ông H có góp vốn, nhưng không có nội dung nào xác nhận đây là số vốn góp để thành lập công ty hay nâng vốn điều lệ của Công ty Đ theo quy định.

(ii) Biên bản chỉ tập trung vào việc chia lợi nhuận, thu nhập của mỗi người là 33,33% mà không có nội dung nào thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của ông H đối với các khoản nợ của công ty tương ứng với phần vốn góp (đặc trưng của tư cách thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên).

(iii) Về mặt thủ tục hành chính, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (“GCNĐKDN”) của Công ty Đ từ khi thành lập đến khi tranh chấp không hề ghi nhận tên ông H hay việc tăng vốn điều lệ.

Từ các căn cứ nêu trên, HĐTP TAND Tối cao nhận định rằng trong trường hợp này, việc ông H góp vốn chỉ mang tính chất góp vốn để cùng hợp tác kinh doanh, chứ không phải góp vốn điều lệ để trở thành thành viên công ty.

1.2. Nội dung án lệ

Trên cơ sở QĐGĐT số 17/2022/KDTM-GDT, HĐTP TAND Tối cao đã ban hành Án lệ số 78 với nội dung căn cứ vào các Đoạn số 4, 5 và 7 của Quyết định này như sau:

“[4] Thực tế, Công ty TNHH Đ được thành lập năm 2001 có 02 thành viên góp vốn là ông Nguyễn Văn T và ông Trần V, với vốn điều lệ được đăng ký là 1.000.000.000 đồng; đăng ký thay đổi doanh nghiệp các lần sau đó (lần 2, 3, 4, 5) vào các năm 2006, 2010, 2012 theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì Công ty có 02 thành viên là ông T và ông V với vốn điều lệ Công ty đã đăng ký là 6.000.000.000 đồng.

[5] Theo Biên bản họp Hội đồng thành viên Công ty ngày 22/3/2017 nêu trên thì các bên chỉ xác nhận việc góp vốn mà không có nội dung nào xác nhận đây là số vốn góp để thành lập Công ty hay nâng vốn điều lệ của Công ty theo quy định. Các bên chỉ xác định việc chia lợi nhuận, thu nhập của mỗi người là 33,33% mà không có nội dung nào thể hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi người tương ứng với phần vốn góp của mình đối với: các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của Công ty theo Điều lệ Công ty. Mặt khác, tại biên bản này, ông H tự xác định không điều hành việc kinh doanh của Công ty. Nếu xác định đây là việc góp vốn để tăng vốn điều lệ của Công ty từ 6.000.000.000 đồng lên 7.253.656.000 đồng như các bên đã thỏa thuận thì việc tăng vốn này cũng chưa được công nhận vì chưa đăng ký và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp”.

“[7] Theo quy định thì vốn điều lệ, việc góp vốn điều lệ để trở thành thành viên Công ty và việc góp vốn để kinh doanh là 2 vấn đề khác nhau. Các bên không có thỏa thuận, không đăng ký tăng vốn điều lệ… Như vậy, chỉ có cơ sở xác định ông H góp vốn kinh doanh, không phải góp vốn để tăng vốn điều lệ của Công ty…”.

2. Nhận định về án lệ

Án Lệ 78 đặt ra hai nguyên tắc pháp lý quan trọng như sau:

Thứ nhất, án lệ này đã tách biệt việc góp vốn điều lệ và góp vốn kinh doanh là hai hoạt động khác nhau, với hậu quả pháp lý khác nhau. Theo Luật Doanh nghiệp 2020, việc góp vốn điều lệ là nhằm thành lập công ty hoặc tăng vốn điều lệ của công ty đang hoạt động, và khi này người góp vốn sẽ trở thành thành viên (đối với công ty TNHH) hoặc cổ đông (đối với công ty cổ phần) của công ty1. Trái lại, việc góp vốn kinh doanh là một khái niệm có phạm vi rộng và có thể thuộc một trong các giao dịch, thỏa thuận dân sự khác như hợp đồng hợp tác kinh doanh (hợp đồng BCC) theo Luật Đầu tư 2025, hợp đồng hợp tác theo Bộ luật Dân sự 2015, hoặc cho vay để hưởng lợi nhuận…theo đó, với mỗi loại hình giao dịch cụ thể sẽ kéo theo quyền và nghĩa vụ tương ứng cho bên tham gia.

Thứ hai, để xác định việc góp vốn là góp vốn điều lệ hay góp vốn kinh doanh cần phải dựa trên bản chất, mục đích của hoạt động góp vốn cũng như việc thực hiện đầy đủ các thủ tục luật định để ghi nhận mục đích này với cơ quan có thẩm quyền.

Từ các nguyên tắc trên, nhóm tác giả cho rằng có hai vấn đề cần làm rõ và/hoặc tiếp cận theo góc độ khác nhằm giải quyết triệt để vấn đề đặt ra. Cụ thể, thứ nhất, nhóm tác giả nhận thấy các cơ sở mà HĐTP TAND Tối cao sử dụng để lập luận rằng ông H không có tư cách thành viên là chưa hoàn toàn thuyết phục. Thứ hai, Án Lệ 78 chỉ đưa ra định hướng xét xử có lợi cho các thành viên góp vốn hiện hữu trong Công ty Đ mà chưa xác định rõ quan hệ pháp lý áp dụng cho việc “góp vốn kinh doanh” và cơ chế nào để đảm bảo tính công bằng cho người góp vốn trong trường hợp này. Hai nội dung nêu trên lần lượt được phân tích, làm rõ ngay dưới đây:

2.1. Những điểm chưa hợp lý trong lập luận của QĐGĐT số 17/2022/KDTM-GDT và Án Lệ 78

QĐGĐT số 17/2022/KDTM-GĐT đã đưa ra ba căn cứ sau đây để xác định Nguyên đơn (ông H) góp vốn để hợp tác kinh doanh mà không phải góp vốn điều lệ vào Công ty Đ như sau:

Thứ nhất, tại Đoạn 5 phần Nhận định của Tòa án, HĐTP TAND Tối cao lập luận rằng Biên bản họp Hội đồng thành viên Công ty năm 2017 chỉ xác nhận việc Nguyên đơn góp vốn chứ không xác định đây là số vốn góp để thành lập công ty hay nâng vốn điều lệ của công ty theo quy định (của Luật Doanh nghiệp). Biên bản này cũng không đề cập nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi người tương ứng với phần vốn góp của mình đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính khác của Công ty2.

Mặc dù vậy, bản thân Biên bản họp Hội đồng thành viên này lại được các thành viên trong Công ty Đ đề tên “Biên bản họp Hội đồng thành viên góp vốn”; cụm từ “vốn điều lệ” được sử dụng trong biên bản này, tỷ lệ phần trăm vốn điều lệ được ghi rõ cho từng người trong Công ty Đ, và biên bản này được lập trong cuộc họp Hội đồng thành viên.

Dưới góc độ điều hành và quản trị doanh nghiệp, việc một người, về mặt danh nghĩa tuy chưa được ghi nhận tư cách thành viên nhưng lại tham gia họp hội đồng thành viên, ký tên cùng các thành viên sáng lập để xác nhận tỷ lệ sở hữu phần vốn góp của mình trong công ty (Biên bản họp thành viên năm 2017 ghi nhận ông H sở hữu phần vốn góp là 38%) theo tỷ lệ phân chia rõ ràng bên cạnh tỷ lệ của thành viên khác với tổng bằng 100% vốn điều lệ, đã thể hiện ý chí của tất cả thành viên trong cuộc họp rằng từng người trong số họ đều là thành viên góp vốn vào công ty. Thực tiễn thành lập và hoạt động doanh nghiệp chỉ ra rằng, rất nhiều công ty chỉ ghi vốn góp với mức lợi nhuận theo tỷ lệ % mà không ghi rõ nghĩa vụ tài chính, nợ tương ứng. Sở dĩ như vậy do điều này đã được quy định rất rõ trong Luật Doanh nghiệp rằng “Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, trừ trường hợp chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết thì phải chịu trách nhiệm tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian trước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và tỷ lệ phần vốn góp của thành viên”. Dù cho ngôn ngữ diễn đạt trong văn bản không sát theo quy định của pháp luật, nhưng điều này cũng không làm mờ đi thực tế nêu trên và cũng có thể hiểu được đối với các doanh nhân chưa am tường luật pháp, nên việc chỉ căn cứ vào câu chữ soạn thảo để xác định không có ý định góp vốn điều lệ là chưa hoàn toàn thỏa đáng.

Thứ hai, cũng tại Đoạn 5, HĐTP TAND Tối cao nhận định rằng dù có thỏa thuận tăng vốn từ 6 tỷ lên hơn 7,2 tỷ đồng, nhưng do “... chưa đăng ký và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp” nên việc tăng vốn này không được công nhận. Lập luận này bất hợp lý ở chỗ thủ tục đăng ký tăng vốn hay đăng ký thay đổi thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên tại cơ quan đăng ký kinh doanh là nghĩa vụ của công ty và hồ sơ đăng ký phải có chữ ký của người đại diện theo pháp luật của công ty, mà trong vụ việc này là ông T. Do đó, ông H vừa không có nghĩa vụ lẫn khả năng để thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi thành viên. Nội dung của QĐGĐT số 17/2022/KDTM-GĐT cũng cho thấy ông H nhiều lần yêu cầu ông T đăng ký với cơ quan nhà nước bổ sung tên mình vào GCNĐKDN; bản thân ông T cũng đã thực hiện đăng ký thay đổi doanh nghiệp nhiều lần (lần 2, 3, 4, 5 vào các năm 2006, 2010, 2012) nhưng không bổ sung tên ông H vào danh sách thành viên mà không rõ lý do. Có thể nhận định rằng chính vì công ty không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình trong việc cập nhật thành viên mới theo thỏa thuận và theo quy định pháp luật, nên dẫn tới phát sinh tranh chấp. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, ông H đã buộc phải đề nghị Tòa án sử dụng chức năng tư pháp để ra bản án, nhằm cưỡng chế công ty thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đăng ký bổ sung tên ông vào GCNĐKDN.

Một điều cần lưu ý nữa là khi một người góp vốn vào công ty TNHH hai thành viên trở lên đang trong quá trình hoạt động, thì người này chính thức trở thành thành viên kể từ thời điểm đã thanh toán đủ phần vốn góp theo thỏa thuận với công ty, các thành viên hiện hữu và thông tin của người góp vốn được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên. Ngoài ra họ còn được cấp giấy chứng nhận phần vốn3 góp  cho việc này. Nghĩa vụ cập nhật thông tin của thành viên trong sổ đăng ký thành viên khi có yêu cầu và cấp giấy chứng nhận phần vốn góp thuộc về công ty tiếp nhận phần vốn góp4. Như vậy, cả hai ông T và ông V đều là thành viên hiện hữu của Công ty Đ, đặc biệt là ông T còn là người đại diện theo pháp luật, đã không chủ động thực hiện theo các quy định này khi giữ vai trò là người quản lý hoạt động của công ty.

Qua các phân tích trên, có thể thấy ông T và ông V đều đã vi phạm quy định của Luật Doanh nghiệp liên quan đến các thủ tục hành chính nội bộ lẫn với cơ quan nhà nước để đăng ký thành viên mới, nên việc HĐTP TAND Tối cao dùng căn cứ không thực hiện đúng thủ tục của ông T và ông V để phủ nhận hệ quả góp vốn của ông H là chưa hợp lý. Điều này sẽ hợp lý hơn nếu HĐTP TAND Tối cao yêu cầu ông T giải trình về việc tại sao không thực hiện các thủ tục hành chính này và sử dụng hệ quả này như một trong những căn cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông H.

Thứ ba, HĐTP TAND Tối cao dựa vào chi tiết “... ông H tự xác định không điều hành việc kinh doanh của Công ty” để củng cố rằng ông không phải thành viên. Quan điểm này là không hợp lý theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020, vì Điều 50 của Luật này quy định về nghĩa vụ của thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên không bao gồm việc tham gia điều hành hoạt động kinh doanh. Chưa kể, ông H đã góp nhiều hơn hai thành viên còn lại 500 triệu đồng như một khoản bù đắp cho việc không trực tiếp quản lý công ty do ông ở nước ngoài5. Cuối cùng, trên thực tế có nhiều doanh nghiệp có các thành viên, cổ đông chỉ góp vốn điều lệ để hưởng lợi nhuận, cổ tức mà không trực tiếp tham gia điều hành hoạt động kinh doanh của công ty vì nhiều lý do khác nhau và pháp luật không tồn tại quy định cấm hay hạn chế nào về cách tiếp cận này.

Từ đó có thể thấy ba căn cứ mà HĐTP TAND Tối cao sử dụng để xác định ông H không có tư cách thành viên do ông chỉ góp vốn kinh doanh, mà không phải vốn điều lệ, đều chưa phù hợp và thỏa đáng với quy định của pháp luật, tình tiết thực tế và thực tiễn quản trị doanh nghiệp.

Cuối cùng, mặc dù QĐGĐT số 17/2022/KDTM-GĐT đã đưa ra nhiều lập luận, căn cứ để chứng minh ông H không góp vốn điều lệ mà chỉ góp vốn kinh doanh và kết luận rằng “Khi giải quyết lại vụ án, nếu không có chứng cứ nào khác thì cần bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.”, các bản án sơ thẩm và phúc thẩm lần 1 và lần 2 đều công nhận yêu cầu khởi kiện của ông H, xác nhận ông H là thành viên của Công ty Đ. Cụ thể, tại phần Nhận định của Tòa án trong Bản án phúc thẩm số 36/2024/KDTM-PT ngày 16/10/2024 của TAND cấp cao tại Hà Nội, Tòa án đã lần lượt căn cứ vào chứng cứ sau đây để đi đến kết luận vừa rồi:

(i) Biên bản họp Hội đồng thành viên góp vốn ngày 22/3/2017: Cả ba ông H, V, T1 đều thừa nhận sự tồn tại và hiệu lực của biên bản này. Ngoài ra cũng xác nhận biên bản ghi nhận tổng số vốn góp  và các bên thống nhất lợi nhuận thu được sẽ chia đều cho 3 thành viên với tỷ lệ như nhau là 33,33% (1/3);

(ii) Ông H đã được chia lợi nhuận của Công ty trong suốt 12 năm kinh doanh (từ năm 2003 đến năm 2015). Việc được chia lợi nhuận theo tỷ lệ vốn góp thường là đặc điểm của sở hữu vốn điều lệ hơn là một khoản vay hay hợp tác dự án ngắn hạn;

(iii) Ông H đã cung cấp nhiều đoạn ghi âm được lập vi bằng, trong đó có đoạn ghi âm ông H yêu cầu công ty phải làm thủ tục để ông H được đứng tên trên GCNĐKDN, và các vi bằng thể hiện ông tham gia vào hoạt động điều hành công ty; và

(iv) Liên quan đến việc Công ty Đ không thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp, Tòa xác định việc ông H góp vốn đã được HĐTV (ông T và ông V) đồng ý nên Công ty phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thông báo đến Cơ quan đăng ký kinh doanh theo Điều 23 Điều lệ Công ty và các quy định của Luật Doanh nghiệp.

Ngoài ra, ông T với tư cách người đại diện theo pháp luật từ năm 2001-2019, không làm thủ tục (ký hồ sơ) bổ sung ông H vào danh sách thành viên mặc dù ông H đã nhiều lần yêu cầu là vi phạm Điều lệ Công ty Đ và Luật Doanh nghiệp qua các thời kỳ. 

Nhìn chung, so với QĐGĐT số 17/2022/KDTM-GĐT, bản án phúc thẩm lần 2 đã có góc nhìn hoàn toàn khác như sau: (i) Biên bản họp HĐTV năm 2017 là biên bản họp của các thành viên góp vốn của Công ty Đ (bao gồm cả ông H), ghi nhận việc góp vốn điều lệ chứ không phải là vốn kinh doanh; và (ii) công ty và người đại diện theo pháp luật có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đăng ký doanh nghiệp để cập nhật thành viên góp vốn. Những điểm khác biệt trong góc nhìn này kết hợp với việc ông H đã cung cấp thêm nhiều chứng cứ mới để chứng minh tư cách thành viên của bản thân đã giúp cho Tòa phúc thẩm lần 2 đi đến kết luận ông H là thành viên Công ty Đ.

2.2. Vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người góp vốn

Trên thực tế đã xảy ra nhiều tranh chấp phát sinh giữa công ty và người góp vốn nhưng chưa phải là thành viên, cổ đông công ty xuất phát từ việc bên góp vốn đã thanh toán đủ nhưng công ty không phát hành chứng nhận sở hữu cổ phần, phần vốn góp, hoặc không cập nhật thông tin của họ trong sổ đăng ký‎ thành viên, cổ đông của công ty dẫn đến việc bên góp vốn phải khởi kiện công ty để được công nhận tư cách thành viên, cổ đông của mình. Trong một số doanh nghiệp nhỏ, công ty gia đình mà việc tuân thủ pháp luật về doanh nghiệp thường không chặt chẽ thì việc góp vốn thực tế (vốn thực) thường đi trước thủ tục hành chính (vốn danh nghĩa). Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc bên góp vốn trong những tranh chấp như vậy cần phải được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nhằm giúp họ nhận được lợi ích tương xứng với số cổ phần, phần vốn góp đó.

Mặc dù vậy, phần lập luận của HĐTP TAND Tối cao trong QĐGĐT số 17/2022/KDTM-GĐT và bản thân Án Lệ 78 lại hoàn toàn thiếu vắng đi cơ chế để đảm bảo được quyền lợi tối thiểu này, điển hình như hệ quả pháp lý hoàn trả phần vốn góp (ví dụ, có bao gồm cả lãi từ hoạt động kinh doanh hay không?), cơ chế phân chia lỗ và lãi trong kinh doanh, hoặc người góp vốn có thể khởi kiện lại thông qua cơ sở nào. Nhóm tác giả cho rằng thiếu sót này xuất phát từ việc hội đồng xét xử vẫn chưa xét đến tận cùng bản chất của hoạt động “góp vốn kinh doanh”, vốn là một thuật ngữ rất rộng có thể dùng để chỉ nhiều hoạt động có bản chất pháp lý‎ khác nhau như góp vốn điều lệ theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020, góp vốn theo hợp đồng hợp tác đầu tư (BCC) theo Luật Đầu tư 2020, góp vốn theo hợp đồng hợp tác trong Bộ luật Dân sự 2015, cho công ty vay để hưởng lãi... Nếu đã xác định hoạt động góp vốn của ông H không phải là góp vốn điều lệ cho Công ty Đ thì cần xác định lại bản chất của hoạt động này là gì và thuộc lĩnh vực pháp lý nào để từ đó có những chỉ dẫn cần thiết về các công cụ pháp luật tương ứng mà bên góp vốn có thể sử dụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Ngoài ra, nếu không xác định quan hệ pháp lý thay thế, QĐGĐT số 17/2022/KDTM-GDT và Án Lệ 78 cũng nên mở ra các hướng khác để bảo vệ người góp vốn như cơ chế hoàn trả phần vốn góp (ví dụ, có bao gồm cả lãi từ hoạt động kinh doanh hay không?), cơ chế phân chia lỗ và lãi trong kinh doanh, hoặc người góp vốn có thể khởi kiện theo cơ chế nào.

Đối với những quan điểm trái ngược cho rằng việc yêu cầu Án Lệ 78 cần đưa ra phương án bảo vệ bên góp vốn là không hợp lý khi vai trò của án lệ này chỉ gói gọn trong việc cung cấp đường lối xét xử thống nhất để xác định bản chất góp vốn thực chất là vốn điều lệ hay vốn hợp tác kinh doanh. Tuy nhiên, nếu xét trong một bối cảnh rộng lớn hơn, việc giải quyết không triệt để vấn đề này có thể dẫn đến khả năng Án Lệ 78 tạo tiền lệ cho các thành viên sáng lập huy động vốn dưới danh nghĩa “nhận góp vốn từ người thân trong gia đình, bạn bè” nhưng cố tình trì hoãn hoặc phớt lờ thủ tục ghi nhận tư cách thành viên, sau đó khi công ty phát triển, họ sẽ dựa vào việc thiếu sót của các thủ tục này để gạt bỏ tư cách thành viên công ty, chỉ trả lại tiền gốc hoặc lợi nhuận kinh doanh mà không thừa nhận giá trị vốn tăng thêm như thỏa thuận. Bởi việc này có thể ảnh hưởng đến hàng loạt số tiền góp vốn của rất nhiều nhà đầu tư nên việc suy nghĩ thấu đáo về giải pháp để bảo vệ bộ phận này là điều hết sức cần thiết.

Như đã đề cập tại Mục 2.1 bài viết này, các bản án sơ thẩm và phúc thẩm lần 1 và lần 2 này đều theo hướng công nhận tư cách thành viên của ông H tại Công ty Đ6, kể cả khi QĐGĐT số 17/2022/KDTM-GĐT đã đưa ra các lập luận nhằm chứng minh ông H chỉ góp vốn kinh doanh và không có tư cách thành viên. Điều này cho thấy hầu hết các cấp tòa đều có quan điểm cần có cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người góp vốn trong công ty.

2.3. Đề xuất hướng giải quyết trong tương lai

Trên cơ sở tham khảo QĐGĐT số 17/2022/KDTM-GĐT và một số bài viết nghiên cứu, phân tích Án lệ 78, theo nhóm tác giả, để đánh giá liệu việc góp vốn trong công ty là vốn điều lệ hay vốn hợp tác kinh doanh, Tòa án cần đánh giá năm nhóm chứng cứ như sau:

a. Nhóm 1: Nhóm các tài liệu nội bộ của công ty.

Tại Đoạn 1 phần Nhận định của QĐGĐT số 17/2022/KDTM-GĐT, HĐTP TAND Tối cao cũng đã liệt kê các tài liệu mà một cá nhân có thể dùng để chứng minh tư cách thành viên, cổ đông, bao gồm: (i) thỏa thuận của các đương sự về việc cùng thành lập Công ty; (ii) ký tên trong danh sách cổ đông sáng lập Công ty (nếu là Công ty cổ phần); (iii) có tên trong Điều lệ Công ty; (iv) có tên trong danh sách thành viên Công ty khi đăng ký kinh doanh; (v) có tên trong giấy chứng nhận đăng ký phần vốn góp tương ứng với giá trị phần vốn đã góp (với công ty cổ phần là giấy chứng nhận cổ phần); và (vi) có tên trong sổ đăng ký thành viên (với công ty cổ phần là sổ đăng ký cổ đông).

Ngoài các tài liệu nêu trên, còn có thể căn cứ vào sổ sách kế toán và báo cáo tài chính của công ty để chứng minh việc góp vốn điều lệ. Cụ thể, theo Thông tư 200/2014/TT-BTC, vốn góp chủ sở hữu phải được hạch toán riêng vào Tài khoản (TK) 411 trên bảng cân đối kế toán, tách biệt hoàn toàn với các khoản vay (TK 341) hay hợp tác kinh doanh (TK 44). Do đó, một khi khoản tiền đã được ghi nhận vào Tài khoản 411, bên tranh chấp sẽ rất khó phủ nhận tư cách vốn góp để chuyển sang quan hệ cho vay hay hợp tác đầu tư. Trên thực tế cũng đã có một số bản án mà Tòa án đã căn cứ vào các loại tài liệu này để xác định tư cách thành viên, cổ đông của người góp vố7.

b. Nhóm 2: Nhóm chứng cứ về quyền quản trị và điều hành (hành vi thực tế).

Trong QĐGĐT số 17/2022/KDTM-GĐT, HĐTP TAND Tối cao công nhận hành vi thực hiện quyền, nghĩa vụ trong việc quản lý, điều hành trong hội đồng thành viên của công ty là một bằng chứng để chứng minh tư cách thành viên trong công ty. Đối với công ty cổ phần là việc tham gia quản lý điều hành trong hội đồng quản trị công ty. Các chứng cứ này có thể được thu thập qua tin nhắn trên các phần mềm nhắn tin, email trao đổi nội bộ, hoặc qua việc có tên trong thành phần tham dự tại các biên bản họp hội đồng thành viên, hội đồng quản trị.

Mặc dù vậy, như đã phân tích tại Mục 2.1 bài viết này, nhóm chứng cứ này chỉ nên được xem là một chứng cứ mang tính bổ sung, và việc tồn tại hay không tồn tại chứng cứ này không phải là yếu tố duy nhất hay quyết định để chứng minh người góp vốn là thành viên, cổ đông công ty. Nói cách khác, nếu không có bằng chứng cho thấy người góp vốn không tham gia vào công việc điều hành công ty, các Toà nên tìm bằng chứng khác thay vì dựa vào chứng cứ này để đi đến kết luận.

c. Nhóm 3: Nhóm chứng cứ về bản chất của việc phân chia lợi ích.

Danh sách nhận cổ tức cũng có thể là một bằng chứng xác nhận tư cách thành viên, cổ đông. Ngoài ra, thời điểm cá nhân góp vốn nhận tiền từ công ty cũng có thể giúp phân biệt giữa lợi nhuận,  cổ tức mà thành viên, cổ đông nhận được và lãi từ việc hợp tác kinh doanh:

  • Vốn điều lệ: Việc chia lợi nhuận, cổ tức thường diễn ra vào cuối năm tài chính, và chỉ được chia khi hoạt động kinh doanh của công ty có lợi nhuận và lợi nhuận lớn hơn nợ lũy kế (nếu có), tỷ lệ chia tương ứng với tỷ lệ vốn góp hoặc thỏa thuận góp vốn, và có thể kéo dài nhiều năm liền (như trong vụ án của ông H và Công ty Đ).
  • Vốn hợp tác kinh doanh (BCC) hoặc cho vay: Thường có mức lãi suất cố định, hoặc chỉ chia lợi nhuận trên một dự án cụ thể, có thời hạn hoàn vốn và kết thúc hợp tác rõ ràng.

d. Nhóm 4: Nhóm chứng cứ về ý chí và sự thừa nhận của các thành viên sáng lập.

Ngoài lời khai của các đương sự, các Tòa án có thể thu thập các chứng cứ nhằm đánh giá ý chí và sự thừa nhận của các thành viên hiện hữu về việc kết nạp thành viên mới như các văn bản trao đổi, thỏa thuận (dù chỉ là biên bản viết tay, giấy cam kết) mà trong đó các thành viên sáng lập sử dụng các thuật ngữ như "tỷ lệ sở hữu", "thành viên, cổ đông", "cổ phần", "chia đều lợi nhuận, cổ tức"...

Nhóm 5: Yếu tố "Lỗi" từ việc không thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi thành viên (đối với công ty TNHH 2 thành viên trở lên) hoặc ghi nhận trong sổ đăng ký cổ đông (đối với công ty cổ phần).

Đối với nhóm chứng cứ này, Tòa án cần làm rõ tại sao công ty và người đại diện theo pháp luật (trong nhiều trường hợp là cổ đông, thành viên hiện hữu) không thực hiện các thủ tục hành chính như đăng ký tăng vốn điều lệ, thay đổi thành viên (đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên), cập nhật thông tin vào sổ đăng ký thành viên, cổ đông, cấp giấy chứng nhận thành viên, cổ đông... khi người góp vốn đã thanh toán đủ và có yêu cầu ghi nhận tư cách (thể hiện qua đơn xin gia nhập, yêu cầu thực hiện thủ tục...), thay vì chỉ dựa vào việc tên người góp vốn không có trong các tài liệu này và đưa ra kết luận họ không có tư cách thành viên, cổ đông.

3. Kết luận

Đánh giá một cách khách quan, Án Lệ 78 cung cấp cho các Tòa án phương hướng xét xử thống nhất đối với các tranh chấp về góp vốn trong doanh nghiệp, một loại tranh chấp khá phổ biến thông qua việc giúp phân biệt giữa vốn điều lệ và vốn kinh doanh, đầu tư trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, Án Lệ 78 được xây dựng trên QĐGĐT số 17/2022/KDTM-GĐT, một nền tảng pháp lý có nhiều lỗ hổng và các lập luận thiếu thuyết phục nên có nguy cơ gây nên nhiều hệ lụy cho hoạt động xét xử, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động doanh nghiệp. Nếu vận dụng Án Lệ 78 một cách thiếu linh hoạt và máy móc, các cơ quan tài phán có nguy cơ loại bỏ tư cách thành viên, cổ đông của những nhà đầu tư chân chính đã rót vốn thực tế. Việc mất tư cách thành viên do lỗi diễn đạt hay thủ tục hành chính chưa hoàn thiện là một sự bất công, đặc biệt khi lỗi không thuộc về nhà đầu tư mà bắt nguồn từ rào cản pháp lý, hoặc sự cản trở có chủ đích từ những người đang nắm quyền quản lý doanh nghiệp, như các thành viên hay cổ đông hiện hữu.

Do đó, Án Lệ 78 nên bị bãi bỏ và có thể được thay đổi bằng một án lệ mới phù hợp hơn với thực tiễn tranh chấp góp vốn. Ngoài ra, các Tòa án khi xem xét liệu việc một cá nhân góp vốn vào công ty là góp vốn điều lệ hay góp vốn kinh doanh, cần đánh giá một cách toàn diện các chứng cứ, mối liên kết giữa chúng và dựa trên ‎chí thực tế của các bên, thay vì chỉ khiên cưỡng giải thích theo một chiều hướng hẹp trong một số các tài liệu, hành vi nhất định hoặc qua hình thức (ví dụ, thủ tục đăng k‎ý doanh nghiệp).


  1. Điều 4. Giải thích từ ngữ
    18. Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty, bao gồm góp vốn để thành lập công ty hoặc góp thêm vốn điều lệ của công ty đã được thành lập.
    ...
    34. Vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản do các thành viên công ty, chủ sở hữu công ty đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh; là tổng mệnh giá cổ phần đã bán hoặc được đăng ký mua khi thành lập công ty cổ phần. 
  2. Đoạn 5 phần Nhận định của Tòa án của QĐGĐT số 17/2022/KDTM-GĐT:
    "[5] Theo Biên bản họp Hội đồng thành viên Công ty ngày 22/3/2017 nêu trên thì các bên chỉ xác nhận việc góp vốn mà không có nội dung nào xác nhận đây là số vốn góp để thành lập Công ty hay nâng vốn điều lệ của Công ty theo quy định. Các bên chỉ xác định việc chia lợi nhuận, thu nhập của mỗi người là 33,33% mà không có nội dung nào thể hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi người tương ứng với phần vốn góp của mình đối với các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của Công ty theo Điều lệ Công ty. Mặt khác, tại biên bản này, ông H tự xác định không điều hành việc kinh doanh của Công ty. Nếu xác định đây là việc góp vốn để tăng vốn điều lệ của Công ty từ 6.000.000.000 đồng lên 7.253.656.000 đồng như các bên đã thỏa thuận thì việc tăng vốn này cũng chưa được công nhận vì chưa đăng ký và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp." 
  3. Khoản 5 Điều 47 Luật Doanh nghiệp 2020:
    "... người góp vốn trở thành thành viên của công ty kể từ thời điểm đã thanh toán phần vốn góp và những thông tin về người góp vốn quy định tại các điểm b, c và đ khoản 2 Điều 48 của Luật này được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên. Tại thời điểm góp đủ phần vốn góp, công ty phải cấp giấy chứng nhận phần vốn góp cho thành viên tương ứng với giá trị phần vốn đã góp." 
  4. Khoản 5 Điều 47, khoản 3 Điều 48 Luật Doanh nghiệp 2020. 
  5. Trang 3 QĐGĐT số 17/2022/KDTM-GĐT:
    "Riêng Ông H góp thêm 500.000.000 đồng với lý do là ông không ở Việt Nam nên không tham gia vào hoạt động kinh doanh". 
  6. Xem thêm Bản án phúc thẩm số 36/2024/KDTM-PT ngày 16/10/2024 của TAND cấp cao tại Hà Nội. 
  7. Nguyễn Thị Ánh Hường (2026), Bình luận Án lệ số 78/2025/AL về xác định mục đích góp vốn vào công ty, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử,
    https://tapchitoaan.vn/binh-luan-an-le-so-782025al-ve-xac-dinh-muc-dich-gop-von-vao-cong-ty15008.html 

Dentons Luật Việt chân thành cảm ơn và ghi nhận những đóng góp của Luật sư Cộng sự Khưu Hồng Linh và Luật sư Cộng sự Võ Thị Thúy Hiền trong việc thực hiện bài viết này.

Miễn trừ trách nhiệm: Bài viết này chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin chung và không cấu thành ý kiến tư vấn pháp lý, hay thiết lập mối quan hệ luật sư và khách hàng. Quý độc giả không nên sử dụng nội dung bài viết như sự thay thế cho tư vấn pháp lý từ luật sư. Dentons Luật Việt không chịu trách nhiệm đối với bất kỳ tổn thất hay thiệt hại nào phát sinh từ việc sử dụng hoặc dựa vào nội dung bài viết này. Vui lòng liên hệ: bd.vietnam@dentons.com để được tư vấn phù hợp.

Great! You’ve successfully signed up.

Welcome back! You've successfully signed in.

You've successfully subscribed to Tập San Luật sư Nội bộ.

Success! Check your email for magic link to sign-in.

Success! Your billing info has been updated.

Your billing was not updated.