Phân tích Án lệ số 78/2025/AL về xác định mục đích góp vốn vào công ty

Phân tích Án  lệ số 78/2025/AL về xác định mục đích góp vốn vào công ty

I. Mở đầu và tiếp cận Án lệ

Ngày 24/12/2025, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao đã thông qua Án lệ số 78/2025/AL và công bố theo Quyết định số 339a/QĐ-CA sau đó một ngày (“Án lệ 78”), với điểm đáng chú ý khi làm rõ sự khác biệt giữa tư cách “thành viên công ty” và “nhà đầu tư góp vốn kinh doanh”.

Từ cách tiếp cận này, Án lệ 78 giải đáp vướng mắc về việc xác định bản chất khoản tiền góp vào doanh nghiệp trong trường hợp hồ sơ đăng ký và thỏa thuận giữa các bên không thống nhất. Qua đó, án lệ góp phần định hướng áp dụng pháp luật theo hướng xác định đúng mục đích của dòng tiền, hạn chế tranh chấp và bảo đảm quyền lợi của các bên trong hoạt động kinh doanh.

II. Nội dung Án lệ

1. Tóm tắt vụ việc

Công ty TNHH Đ (“Công ty”) được thành lập năm 2001 với hai thành viên góp vốn là ông Nguyễn Văn T và ông Trần V, vốn điều lệ ban đầu là 01 tỷ đồng. Sau các lần đăng ký thay đổi doanh nghiệp, vốn điều lệ tăng lên 06 tỷ đồng.

Trong quá trình hoạt động, do nhu cầu mở rộng sản xuất, hai thành viên của công ty đã đề nghị ông Trần Mạnh H đang sinh sống và kinh doanh taxi nước ngoài tham gia góp vốn để hỗ trợ hoạt động kinh doanh. Theo đó, ông H, ông V và ông T đã thống nhất rằng: (i) ông H sẽ tham gia góp vốn vào Công ty; (ii) tỷ lệ vốn góp của mỗi người là 1/3; và (iii) lợi nhuận của Công ty sẽ được chia đều cho ba người. Riêng ông H tự nguyện góp thêm 500 triệu đồng do ông không ở Việt Nam nên không tham gia vào hoạt động kinh doanh. Vì vậy, Ông T, ông V mỗi người góp 2.251.218.000 đồng, ông H góp 2.751.218.000 đồng. Các vấn đề trên đều được ghi nhận trong Biên bản họp Hội đồng thành viên góp vốn ngày 22/3/2017 của Công ty (“Biên bản họp Hội đồng thành viên”).

Qua 12 năm hoạt động kinh doanh từ năm 2003 đến năm 2015, ông H đã được chia lợi nhuận từ công ty là 07 tỷ đồng. Tuy nhiên, cho đến nay, tên của ông H và phần vốn góp của ông không được ghi nhận trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (“GCNĐKDN”). Sau khi phát sinh mâu thuẫn, ông H khởi kiện Công ty, yêu cầu Tòa án tuyên:

(i) Xác định ông H là thành viên góp vốn của Công ty và phần vốn góp của ông trong Công ty theo tỷ lệ là 1/3;

(ii) Buộc Công ty làm thủ tục đăng ký bổ sung ông vào danh sách thành viên với số vốn thực tế ông đã góp.

2. Nhận định và quan điểm của các cấp Tòa án

Tòa án cấp sơ thẩm, tức Tòa án nhân dân TP. Hà Nội và Tòa án cấp phúc thẩm, tức Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đều chấp nhận yêu cầu của ông H và xác định ông là thành viên của công ty. Tuy nhiên, quyết định này sau đó bị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Khi xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (“HĐTP TANDTC”) đã đưa ra nhận định quan trọng rằng dù các bên xác nhận ông H có góp tiền và được chia lợi nhuận, nhưng không có thỏa thuận nào thể hiện đây là phần vốn góp nhằm tăng vốn điều lệ của công ty. Đồng thời, biên bản cũng không ghi nhận quyền, nghĩa vụ của các bên tương ứng với phần vốn góp đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty theo Điều lệ. Các bên cũng không thực hiện thủ tục thỏa thuận, đăng ký tăng vốn điều lệ theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Đáng chú ý, chính ông H cũng xác định mình không tham gia điều hành hoạt động kinh doanh của công ty.

Trên cơ sở đó, HĐTP TANDTC nhận định khoản tiền ông H đưa vào công ty chỉ mang tính chất góp vốn kinh doanh, không phải góp vốn để trở thành thành viên thông qua việc tăng vốn điều lệ. Vì vậy, Tòa án đã hủy các bản án sơ thẩm và phúc thẩm, đồng thời giao hồ sơ để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

III. Phân tích nội dung Án lệ

1. Phân biệt bản chất của “Góp vốn điều lệ” và “Góp vốn kinh doanh”

Điểm cốt lõi của Án lệ 78 nằm ở việc xác lập ranh giới pháp lý giữa hai hành vi có biểu hiện bên ngoài giống nhau nhưng hệ quả pháp lý khác biệt hoàn toàn. Cụ thể:

(i) Góp vốn điều lệ là hành vi đưa tài sản vào công ty để trở thành thành viên công ty. Đặc trưng của loại vốn này là làm thay đổi cấu trúc vốn điều lệ ghi trong Điều lệ và phải được đăng ký công khai tại cơ quan đăng ký kinh doanh. Khi đó, bên góp vốn không chỉ hưởng lợi nhuận mà quan trọng hơn là phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn góp đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty.

(ii) Góp vốn kinh doanh là việc đưa tài sản vào để cùng thực hiện một mục đích kinh doanh cụ thể nhằm chia lợi nhuận. Hành vi này không làm thay đổi vốn điều lệ và không xác lập tư cách thành viên. Thực chất, đây là một dạng quan hệ hợp đồng (tương tự Hợp đồng hợp tác kinh doanh - BCC) mà ở đó bên góp vốn hưởng lợi nhuận hoặc đối tác hưởng lợi theo thỏa thuận, không phải là thành viên của công ty.

Tuy nhiên, HĐTP TANDTC chỉ dừng ở việc quyết định ông H “góp vốn kinh doanh” mà không định nghĩa “góp vốn kinh doanh” thực chất là quan hệ pháp lý gì trong hệ thống pháp luật hiện hành.

2. Xác định tư cách thành viên công ty

Tại Đoạn [5] phần Nhận định của tòa án, HĐTP TANDTC đã nhận định: “Theo Biên bản họp Hội đồng thành viên Công ty ngày 22/3/2017 nêu trên thì các bên chỉ xác nhận việc góp vốn mà không có nội dung nào xác nhận đây là số vốn góp để thành lập Công ty hay nâng vốn điều lệ của Công ty theo quy định. […] Nếu xác định đây là việc góp vốn để tăng vốn điều lệ của Công ty từ 6.000.000.000 đồng lên 7.253.656.000 đồng như các bên đã thỏa thuận thì việc tăng vốn này cũng chưa được công nhận vì chưa đăng ký và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp”. Theo đó, HĐTP TANDTC thể hiện rõ quan điểm, để một cá nhân có tư cách thành viên chính thức, yêu cầu bắt buộc là phải có thỏa thuận tăng vốn điều lệ và hoàn tất các thủ tục đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền.

Mục tiêu của Án lệ 78 nhằm bảo vệ tính chính thống, minh bạch của hệ thống đăng ký doanh nghiệp quốc gia. Đối với pháp nhân, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp không chỉ là một văn bản hành chính mà còn là căn cứ để các bên thứ ba, từ chủ nợ, đối tác đến các cơ quan quản lý tin tưởng và xác định giới hạn trách nhiệm của các thành viên góp vốn. Nếu tòa án chấp nhận tư cách thành viên chỉ dựa các giao dịch tài chính nội bộ hoặc thỏa thuận tự phát mà không qua thủ tục đăng ký sẽ làm ảnh hưởng đến sự chính thống, minh bạch của thông tin đăng ký kinh doanh trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Nhận định trên của tòa án đề cao tính hình thức hơn là bản chất của giao dịch giữa các bên. Bởi lẽ, mặc dù trên GCNĐKDN ông H chưa được đăng k‎ý để trở thành thành viên chính thức của công ty, nhưng thực tế, Biên bản họp Hội đồng thành viên được lập trong cuộc Họp Hội đồng thành viên đã ghi nhận rõ “Ông H góp 2.751.218.000 đồng - tương đương với 38% vốn điều lệ của Công ty”. Ngoài ra, tỷ lệ phần trăm vốn điều lệ của mỗi người trong Công ty đã được ghi nhận rất rõ trong Biên bản là kết quả của cuộc họp Hội đồng thành viên. Các bên đều đồng ý ký vào Biên ‎‎bản. Điều đó cho thấy, tuy Biên bản họp Hội đồng thành viên không đề cập cụ thể việc thỏa thuận nâng vốn điều lệ công ty, nhưng tất cả những thành viên trong cuộc họp đều hiểu và ngầm thống nhất việc này.

Về bản chất của Biên bản họp Hội đồng thành viên Công ty cũng chưa được tòa án làm rõ. Nếu Án lệ 78 đã kết luận ông H góp vốn vào công ty là để hợp tác, không phải góp vốn để tăng vốn điều lệ, thì cần nhìn nhận lại chủ thể thực hiện giao dịch với ông H. Nếu một cá nhân góp vốn vào công ty để nhằm hợp tác kinh doanh, thì chủ thể ký hợp đồng hợp tác kinh doanh phải là cá nhân ông H và công ty, không phải là từng thành viên của công ty ký Biên bản họp Hội đồng thành viên Công ty với người góp vốn là ông H như trong tình huống này.

Bên cạnh đó, ngoài việc xét đến thủ tục đăng ký thay đổi vốn điều lệ, bản chất chuỗi giao dịch nội bộ bao gồm giao nhận tiền, xác lập tỷ lệ chia vốn trong Biên bản họp Hội đồng thành viên có thể được xem là những dấu hiệu quan trọng của một thỏa thuận thay đổi thành viên trên thực tế. Án lệ 78 thay vì xét đến bản chất của giao dịch nội bộ thì tập trung vào hình thức của GCNĐKDN hơn. Cách tiếp cận này tuy bảo đảm được sự công khai minh bạch trong cơ cấu vốn và thành viên công ty đối với bên thứ ba, nhưng mặt khác cũng có thể tạo ra khoảng trống pháp l‎ý. Đặc biệt là khi một bên cố tình dựa vào sự thiếu sót thủ tục đăng ký doanh nghiệp để gian dối và phủ định ý chí khi cùng góp vốn điều lệ vào công ty.

3. Trách nhiệm của thành viên liên quan đến việc điều hành công ty

Tại Đoạn [5] phần Nhận định của tòa án có một tình tiết khá quan trọng là ông H thừa nhận mình "không điều hành việc kinh doanh của Công ty. Đồng thời, Biên bản họp Hội đồng thành viên Công ty ngày 22/3/2017 chỉ xác nhận việc góp vốn, hoàn toàn không đề cập đến việc ông H phải gánh vác các khoản nợ hay rủi ro tài chính cùng doanh nghiệp.

Theo nhận định trên, HĐTP đã nhìn thẳng vào thực tế vận hành công ty để bóc tách bản chất sự việc. Tuy nhiên, căn cứ Điều 51 Luật Doanh nghiệp 2014[1] quy định về nghĩa vụ của thành viên công ty, không có khoản nào quy định thành viên công ty có nghĩa vụ phải tham gia trực tiếp vào hoạt động điều hành việc kinh doanh của Công ty. Hay nói cách khác, việc xác định tư cách thành viên không thể kết luận dựa trên vai trò quản lý, tham gia điều hành công ty của cá nhân. Bởi xét về bản chất, tư cách thành viên gắn liên với số vốn góp vào và quyền biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Hội đồng thành viên theo quy định của Điều lệ công ty. Vì vậy, lập luận “ông H tự xác định không điều hành việc kinh doanh của Công ty” chỉ là một tình tiết bổ trợ cho việc nhận diện bản chất của giao dịch, không phải là căn cứ để xác lập tư cách thành viên.

Mặt khác, khi đã có CMND và hộ khẩu tại Việt Nam, từ tháng 9 năm 2008, ông H đã nhiều lần đề nghị ông T bổ sung tên mình vào GCNĐKDN nhưng ông T đều không thực hiện. Vào các năm 2006, 2010, 2012, ông T đã thực hiện đăng ký thay đổi doanh nghiệp nhiều lần (lần 2, 3, 4, 5) nhưng không lần nào bổ sung ông H. Tòa án cũng chưa làm rõ lý do vì sao ông T từ chối việc bổ sung này. Nhưng cuối cùng, HĐTP TANDTC lại dùng chính căn cứ GCNĐKDN không thể hiện ông H là thành viên (là hệ quả của việc ông T không bổ sung tên ông H) để phủ nhận tư cách thành viên của ông H là chưa đủ thuyết phục.

IV. Khuyến nghị

Từ nội dung và lập luận của Án lệ số 78, có thể rút ra một số khuyến nghị chính cho cá nhân và doanh nghiệp trong hợp tác kinh doanh:

(i) Thứ nhất, các bên cần phải làm rõ mục đích góp vốn ngay từ ban đầu và khẳng định khoản tiền góp là vốn điều lệ để trở thành thành viên công ty hay chỉ là vốn hợp tác/đầu tư. Sự phân định này quyết định trực tiếp đến quyền quản lý, hưởng lợi nhuận và trách nhiệm tài sản, đồng thời tránh tranh chấp về tư cách thành viên.

(ii) Thứ hai, việc góp vốn cần được lập thành văn bản với nội dung rõ ràng về quyền, nghĩa vụ và cơ chế phân chia lợi nhuận, thực hiện đầy đủ thủ tục pháp lý khi góp vốn. Nếu nhằm xác lập tư cách thành viên, doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ thủ tục theo Luật Doanh nghiệp như sửa đổi Điều lệ, cập nhật sổ đăng ký thành viên, sổ cổ đông và đăng ký thay đổi với cơ quan có thẩm quyền.

(iii) Thứ ba, việc duy trì đầy đủ các hồ sơ, tài liệu doanh nghiệp như sổ đăng ký thành viên, sổ cổ đông, hồ sơ góp vốn, biên bản họp và kịp thời đăng ký các thay đổi về vốn, thành viên, cổ đông cần được tăng cường quản lý. Điều này giúp đảm bảo minh bạch, hạn chế tranh chấp và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.


[1] Nay là Điều 50 Luật Doanh nghiệp 2020

Điều 50. Nghĩa vụ của thành viên công ty

1. Góp đủ, đúng hạn số vốn đã cam kết, chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều 47 của Luật này.

2. Không được rút vốn đã góp ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp quy định tại các điều 51, 52, 53 và 68 của Luật này.

3. Tuân thủ Điều lệ công ty.

4. Chấp hành nghị quyết, quyết định của Hội đồng thành viên.

5. Chịu trách nhiệm cá nhân khi nhân danh công ty để thực hiện các hành vi sau đây:

a) Vi phạm pháp luật;

b) Tiến hành kinh doanh hoặc giao dịch khác không nhằm phục vụ lợi ích của công ty và gây thiệt hại cho người khác;

c) Thanh toán khoản nợ chưa đến hạn trước nguy cơ tài chính có thể xảy ra đối với công ty.

6. Nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này.

Great! You’ve successfully signed up.

Welcome back! You've successfully signed in.

You've successfully subscribed to Tập San Luật sư Nội bộ.

Success! Check your email for magic link to sign-in.

Success! Your billing info has been updated.

Your billing was not updated.